Bên Cty Tôi đã ủy quyền cho Luật Sư làm đơn thi hành án gửi Chi Cục Thi Hành Án - Huyện Sapa yêu cầu phong tỏa tai khoản,tài sản..để thu hồi nợ  nhưng đến hôm này ( 21/01/2012 ) bên Tôi vẫn chưa nhận được thông báo nào từ  phía cơ quan thi hành án xin Văn Phòng Luật cho Tôi hỏi một số nội dung sau.
01. Sau khi nhận được Đơn yêu cầu Thi Hành Án sau thời gian bao lâu thì Thi hành Án ? 
02. Trường hợp cty đó không có tài sản để thi hành án ? có được cưởng chế tài sản cá nhân k ( Cty này là cty Tư Nhân ông giám đốc có nhà và cửa hàng kinh doanh tại sapa )
03. Trường hợp Ông Giám Đốc không có mặt tại địa phương ( Bỏ Trốn ) có thi hành án được không ( cty này có trụ sở và ông giám đốc có nhà ờ sapa) 
- Tôi không hiểu về luật thi hành án nên mong quý cty tư vấn giúp xin chân thành cảm ơn.
Chúc quý cty sức khỏe và thành Công.
Trân Trọng Kính Chào !
Người gửi: Lê Hoàng

Trả lời:

Tại Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định các thời hạn thi hành án như sau:

Khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án: “ thời hạn ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án”.

Tại khoản 1, khoản 2 Điều 39 quy định: khoản 1: “Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án phải thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.

Khoản 2: “Việc thông báo phải thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án

Khoản 1 Điều 45 quy định: “Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án”

Tại khoản 1 Điều 46 quy định: “Hết thời gian tự nguyện thi hành án, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế”.

Như vậy, thời gian thi hành án phụ thuộc vào việc người được thi hành án đã có đơn yêu cầu thi hành án chưa và người phải thi hành án có khả năng thi thành án không.

theo quy định tại Điều 90 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 thì  “Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án”.

Như vậy, phải xem xét, tiến hành xác minh làm rõ tài sản của Công ty A hiện còn, bởi nếu tài sản thế chấp lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm thì có nghĩa là Công ty A vẫn còn khả năng trả nợ cho bạn và cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện việc thi hành án theo yêu cầu của phía công ty bạn.

Trong trường hợp này, cơ quan thi hành án khi có đơn yêu cầu phải tiến hành kê biên; xử lý tài sản đang thế chấp và thông báo ngay cho tổ chức tín dụng đang nhận thế chấp của Công ty A. Khi xử lý tài sản kê biên, tổ chức tín dụng nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 141, 142 và Điều 143 Luật Doanh nghiệp ngày 19/11/2005 thì Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.

Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản. Toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tăng hoặc giảm vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán. Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh.

Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

2. Điều 74 Luật Thi hành án dân sự ngày 14/11/2008 quy định về cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung, theo đó trước khi cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, kể cả quyền sử dụng đất, Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế. Chủ sở hữu chung có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của họ đối với tài sản chung. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án. Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phần sở hữu được Chấp hành viên xác định. Hết thời hạn trên, đương sự không khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành xử lý tài sản và thanh toán lại cho vợ hoặc chồng của người phải thi hành án giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý như sau: Đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án. Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán lại cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

3. Căn cứ các quy định nêu trên, khi xử lý tài sản liên quan đến doanh nghiệp tư nhân, cơ quan thi hành án dân sự phải xác định rõ tài sản đó thuộc sở hữu riêng của chủ doanh nghiệp tư nhân hay thuộc sở hữu chung của chủ doanh nghiệp tư nhân với người khác. Trường hợp tài sản đó là tài sản thuộc sở hữu riêng của chủ doanh nghiệp tư nhân thì không phải thực hiện theo quy định tại Điều 74 Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp tài sản đó là tài sản thuộc sở hữu chung của chủ doanh nghiệp tư nhân với người khác thì phải thực hiện đúng quy định tại Điều 74 Luật Thi hành án dân sự.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật - Công ty luật Minh Khuê

-----------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Tư vấn pháp luật lao động;

2.Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

3. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

4. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;