Chú tôi có vay vốn chương chình nuớc sạch nông thôn là 12tr, thời điểm vay là khi ở cùng nguời vợ thứ hai. Người ký cùng chú tôi trong sổ vay vốn là nguời vợ thứ hai.

Nhưng chú tôi không may đột ngột qua đời không để lại giấy tờ gì. Và thời điểm trước khi chú tôi qua đời lại đã ly hôn với người vợ thứ hai. Và em tôi con của chú mới đang học lớp 12. Truớc khi qua đời hộ khẩu gia đình chú tôi chỉ còn chú tôi và nguời con trai đang học lớp 12 không còn hộ khẩu của ngừoi vợ thứ hai nữa. Vì sau khi li hôn nguời vợ thứ hai đã đi lấy chồng mới. Gia đình chú tôi thuộc dạng hộ nghèo đặc biệt khó khăn. Không có tài sản gì quý giá ngoài đất do ông bà cho để ở.

- Vậy tôi muốn hỏi khoản nợ của chú tôi sẽ đuợc giải quyết như thế nào ạ. Ngân hàng có xuống siết nợ bằng hình thức thu hồi đất của gia đình chú tôi không ạ ? 

Rất mong đuợc sự tư vấn sớm nhất từ quý công ty ạ.

Người gửi : Hoàng Trọng Huy

 

Luật sư trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự 2015

- Luật hôn nhân và gia đình 2014

- Luật thi hành án dân sự 2014

2. Luật sư giải đáp:

Đầu tiên, chúng tôi vô cùng chia buồn và cảm thông sâu sắc tới hoàn cảnh của gia đình chú bạn đã gặp phải. Đối với người khác số tiền 12 triệu không phải là quá nhiều, nhưng gia đình của chú bạn thuộc dạng hộ nghèo đặc biệt khó khăn thì để trả 12 triệu không phải là đơn giản.

Chúng tôi, xin phép được tư vấn, giải đáp của bạn và vong linh của chú như sau:

Thứ nhất, người vợ thứ hai sẽ phải trả số tiền 6 triệu đồng (nguyên tắc chia đôi tài sản trong thời kỳ hôn nhân). Số nợ còn lại 6 triệu đồng sẽ được quy đổi ra tài sản thừa kế ở đây thừa kế theo pháp luật do chú bạn không để lại di chúc. Có nghĩa là trong trường hợp tổ chức cho vay vốn khởi kiện dân sự Tòa án thì tòa sẽ kê biên tài sản của chú bạn để lại trong đó có cả nhà đất. Bởi lẽ:

Nghĩa vụ trả nợ khi ly hôn: Đối với các khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân mà đến nay chú bạn và vợ thứ 2 kể cả đã ly hôn sau đó vẫn chưa trả xong thì pháp luật vẫn xác định đó là nghĩa vụ chung của cả 2. Theo đó, mỗi người phải có nghĩa vụ thanh toán một nửa số nợ.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 về tài sản chung của vợ chồng:

“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.“

Thứ hai, có bị thu hồi nhà đất hay không thì như đã phân tích ở trên, tài sản là nhà đất có thể bị coi là tài sản để kê biên trong quá trình thi hành án dân sự. Bởi lẽ,   

Trong khi thi hành án dân sự thì có những trường hợp Cơ quan thi hành án phải kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án. Việc kê biên tài sản phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, không được làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Theo quy định tại Điều 87 Luật thi hành án dân sự thì những tài sản sau đây không được kê biên:

– Lương thực, thuốc men cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình;

– Công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt thông thường cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình;

– Đồ dùng thờ cúng thông thường.

Đối với việc bảo quản tài sản kê biên, Điều 58 Luật thi hành án dân sự quy định một số hình thức:

– Giao cho người phải thi hành án, người thân thích của người phải thi hành án theo quy định tại Khoản 2 Điều 40 của Luật thi hành án dân sự (vợ, chồng, con, cha, mẹ, ông bà, bác, chú, cô, cậu, dì, anh, chị em của đương sự, của vợ hoặc chồng của đương sự) hoặc người đang sử dụng, bảo quản;

– Cá nhân, tổ chức có điều kiện bảo quản;

– Bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự. Đối với tài sản là kim khí, đá quý, tiền hoặc giấy tờ có giá, bảo quản tại kho bạc nhà nước.

Việc giao bảo quản tài sản phải được lập biên bản ghi rõ loại tài sản; tình trạng tài sản; giờ, ngày, tháng, năm giao; họ, tên chấp hành viên, đương sự, người được giao bảo quản, người làm chứng (nếu có); quyền , nghĩa vụ của người được giao bảo quản tài sản và có chữ ký của các bên. Trường hợp có người từ chối ký thì phải ghi vào biên bản và nêu rõ lý do.

Cá nhân, tổ chức có điều kiện bảo quản theo quy định trên được trả thù lao và được thanh toán chi phí bảo quản tài sản. Thù lao và chi phi bảo quản tài sản do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Người được giao bảo quản tài sản vi phạm quy định của pháp luật trong việc bảo quản tài sản thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Khuyến cáo: Bài viết được Luật gia, Luật sư của Công ty Luật Minh Khuê thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến, tuyên truyền kiến thức pháp luật trong cộng đồng, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Nội dung bài tư vấn pháp luật dân sự mà Công ty Luật TNHH Minh Khuê cung cấp, có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê