Vậy tôi muốn hỏi là:

1. Đối với BLDS 2005 thì nó có còn hiệu lực không ạ?

2. Khi giải quyết một hợp đồng vay tài sản mà có lãi suất cao hơn 150% mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước tôi có được viện dẫn văn bản này để xử lý mức lãi suất đó xuống thành 150% mức lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước không ạ?

Tôi xin chân thành cám ơn.

Người gửi: Hải Linh Vũ

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  - 1900 6162

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi về cho công ty Luật Minh Khuê. Với những thắc mắc của bạn, chúng tôi xin phép được trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật Dân sự 1995

- Bộ luật Dân sự 2005

- Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12

- Thông tư liên tịch số 01/1997/TLLT ngày 19/06/1997

2. Nội dung giải quyết:

- Căn cứ vào Điều 81, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (LBHVBQPPL) quy định về "Những trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực" như sau:

"Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:

1. Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản;

2. Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó;

3. Bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền."

Điều 83, LBHVBQPPL quy định về "Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật" như sau:

"1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau.

4. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới."

- Đối chiếu với văn bản quy phạm pháp luật mà bạn đang muốn hỏi ở đây là Thông tư liên tịch của TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Tư Pháp và Bộ Tài chính số 01/TT-LT ngày 19/06/1997 thì:

1. Đối với BLDS 2005 thì nó có còn hiệu lực không ?

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/07/1997 và hiện nay vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào thay thế hoặc hủy bỏ Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 nêu trên, nên Thông tư liên tịch này vẫn được áp dụng, trừ những nội dung không còn phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó là BLDS 2005 (ví dụ như: lãi đối với số tiền chậm trả theo “lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố” quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2005 thay cho “lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định” theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật Dân sự năm 1995).

2. Khi giải quyết một hợp đồng vay tài sản mà có lãi suất cao hơn 150% mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước tôi có được viện dẫn văn bản này để xử lý mức lãi suất đó xuống thành 150% mức lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước không ?

Tại Điểm b, Khoản 4, Mục I của Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 đã quy định:

"Nếu mức lãi suất do các bên thoả thuận vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại vay tương ứng tại thời điểm vay, thì toà án áp dụng khoản 1 Điều 473 Bộ luật dân sự (1995) buộc bên vay phải trả lãi bằng 150% mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại vay tương ứng."

Như vậy, mặc dù Điều 473 BLDS 1995 đã được thay thế, sửa đổi trong Điều 476 BLDS 2005, tuy nhiên quy định trong Thông tư liên tịch kể trên hoàn toàn phù hợp với tinh thần Điều 476 BLDS 2005 đã quy định về "Lãi suất" như sau:

"Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Do đó, bạn có thể áp dụng quy định về giải quyết vấn đề lãi suất đối với các hợp đồng vay tài sản có lãi suất vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước trong Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997.

Nếu còn có gì thắc mắc, bạn có thể tiếp tục liên hệ với chúng tôi để được giải đáp sớm nhất có thể.

Trân trọng./.

Ban tư vấn pháp luật dân sự - Công ty Luật Minh Khuê