Khi tôi khởi kiện ra tòa để yêu cầu người thừa kế tài sản trả nợ thì cô vợ đã nhanh chóng khai di sản thừa kế và bán 01 căn nhà có giá trị lớn. Mặc dù tôi lúc đó tháng 01/2013 tôi có yêu cầu công chứng ngăn chặn không công chứng hợp đồng mua bán căn nhà nhưng công chứng có văn bản trả lời chỉ có Tòa án, Công an, Thi hành án mới ngăn chặn được, khi tôi về tòa án yêu cầu ngăn chặn thì việc tiến hành thủ tục để Tòa ngăn chặn cũng không kịp.

Nay căn nhà nhỏ còn lại có giá trị không đủ để bảo đảm trả nợ khi thi hành bản án có hiệu lực do vậy tôi muốn khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa tuyên hủy hợp đồng mua bán căn nhà có giá trị lớn mà trước đó cô vợ đã bán ( bán tài sản ngay tình nhưng không trả nợ ) có được không? và có thể thắng kiện việc tuyên hủy hợp đồng này hay không? và nếu không thì trước đó chúng tôi phải làm như thế nào để Tòa án kịp thời có văn bản gửi đi để ngăn chặn việc chuyển nhương mua bán này?

Rất mong được quý cty tư vấn giúp, tôi trân trọng cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn về biện pháp khẩn cấp tạm thời ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Đối với vấn đề bạn thắc mắc chúng tôi xin được trả lời như sau:

1, Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự 2005 

Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011) 

2, Nội dung tư vấn:

Trong trường hợp của bạn thì người chồng chết để lại tài sản thì những người thừa kế tài sản ấy có nghĩa vụ phải trả nợ cho bạn theo 

quy định tại Điều 637 Bộ luật dân sự 2005:

" Điều 637. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế.

3. Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân."

Như vậy, khi người vợ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì bạn có thể khởi kiện ra Tòa án. Tuy nhiên, khi tranh chấp chưa được giải quyết thì tài sản tranh chấp vẫn có thể được định đoạt theo nhiều hình thức khác nhau. Vì vậy, việc cơ quan công chứng thực hiện việc công chứng là không hề trái luật và hợp đồng mua bán đó là hợp pháp. Tòa án chỉ tuyên hủy hợp đồng khi mà hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 127 và Điều 122 của Bộ luật Dân sự 2005:

'' Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu.

   Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự  

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.''

Căn cứ vào đó, bạn không thể yêu cầu tòa án tuyên hủy hợp đồng được vì căn nhà đó không bị kê biên để thi hành án. Người vợ đó vẫn có trách nhiệm trả nợ cho bạn trong phạm vi tài sản người vợ được thừa kế.

Trước đó (trước khi tài sản bị bán), để gải quyết các nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn tình trạng tài sản hoặc đảm bảo cho việc thi hành án thì bạn có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Tố tụng Dân sự:

''Điều 99. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 162 của Bộ luật này có quyền yêu cầu Toà án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 102 của Bộ luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.
2. Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền nộp đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 102 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Toà án đó.
3. Toà án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp quy định tại Điều 119 của Bộ luật này.''

Việc yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện biện biện pháp bảo đảm theo Điều 120 của Bộ luật Tố tụng Dân sự để đảm bảo ràng buộc trách nhiệm của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đồng thời bảo đảm điều kiện bồi thường khi có thiệt hại xảy ra:

''Điều 120. Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm
1. Người yêu cầu Toà án áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 102 của Bộ luật này phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Toà án ấn định nhưng phải tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu.
Đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 99 của Bộ luật này thì thời hạn thực hiện biện pháp bảo đảm quy định tại Điều này không được quá 48 giờ, kể từ thời điểm nộp đơn yêu cầu.
2. Khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá phải được gửi vào tài khoản phong toả tại ngân hàng nơi có trụ sở của Toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thời hạn do Toà án ấn định.
Trong trường hợp thực hiện biện pháp bảo đảm vào ngày lễ hoặc ngày nghỉ thì khoản tiền bảo đảm được gửi giữ tại Toà án. Toà án phải làm thủ tục giao nhận và gửi ngay khoản tiền đó vào ngân hàng vào ngày làm việc tiếp theo.''

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng.

Bộ phận Tư vấn Luật Dân sự.