Vì quen biết và thâm tình nên không viết giấy tờ mượn tiền, chỉ có người làm chứng. Về tiền hụi tôi chơi 6 dây, mỗi dây 2 chân. Vị chi tiền đóng hụi là 40 000 000 đồng (bốn mươi triệu đồng). Nay chủ hụi trốn nợ, chồng y bảo tiền đó là do vợ y mượn và chơi hụi y không biết. Nhưng đến giờ chồng y cũng trốn đi nơi khác.
Xin hỏi luật sư! Vụ việc này tôi có kiện được không? Có thể thắng kiện được không? Có thể đòi lại tiền cho mượn và tiền hụi đã đóng được không? Nếu muốn thắng kiện thì cần những chứng cứ gì?
Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê!
Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.
Kính thư!
Người gửi: Nguyễn Thanh Xuân

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:    1900 6162

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến - Ảnh minh họa

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Trong trường hợp của bạn, giữa bạn và chủ hụi phát sinh hai mối quan hệ dân sự đó là: mượn tài sản là tiền có giá trị 23.000.000 đồng và vay tài sản là tiền có giá trị 40.000.000 đồng (hụi, họ, biêu, phường là một trong các hình thức vay tài sản theo quy định tại BLDS 2005)

Một trong những nghĩa vụ của chủ họ là “giao các phần họ cho thành viên được lĩnh họ” quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định 144/2006/NĐ-CP và một trong những nghĩa vụ của bên mượn tài sản (chủ họ) là "trả lại tài sản mượn đúng thời hạn; nếu không có thoả thuận về thời hạn trả lại tài sản thì bên mượn phải trả lại tài sản ngay sau khi mục đích mượn đã đạt được" theo khoản 3 Điều 514 BLDS 2005 .

Bên cạnh đó, theo Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 thì:

“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng. 

..."

Dựa vào các quy định trên, nếu chủ họ có dấu hiệu trốn tránh trách nhiệm trả lại số tiền đã mượn và số tiền lĩnh họ của bạn bằng cách bỏ trốn khỏi địa phương thì bạn có thể tố cáo người đó đến cơ quan công an cấp huyện về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Căn cứ vào số tiền chiếm đoạt tổng cộng là 63.000.000 đồng, chủ họ có thể bị khởi tố về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 2 Điều 140 BLHS 1999.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài luật sư tư vấn: 1900 6162 .

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê