Sau khi nhận đơnTòa đã triệu tập em và người đó lên để xử, nhưng người đó vắng mặt nên tòa đã chuyển hồ sơ cho công an thành phố. Công an thành phố  đã triệu tập họ về và yêu cầu họ viết cam kết không đi khỏi địa phương (Hộ khẩu của người đó tại thành phố Kon Tum) Sau đó 1 thời gian Tòa án thành phố lại triệu tập e và người đó lần 2, lần này người đó lại tiếp tục vắng mặt cho nên tòa tạm hoãn xử. Cách đây 2 tháng em biết được người đó hiện đang tạm trú tại huyện Ngọc  Hồi, thành phố Kon Tum. Tòa án Thành phố đã chuyển hồ sơ vụ án của em lên tòa án huyện Ngọc Hồi. Luật sư cho e hỏi:

1. Việc người đó viết cam kết không đi khỏi địa phương mà lại tạm trú ở huyện ngọc hồi như vậy cố đúng không?

2. Tòa án Thành phố có được chuyển hồ sơ của em sang Tòa án huyện Ngọc Hồi Không?

3. Trong trường hợp của em vậy nên làm như thế nào để người đó trả nợ cho em.

Em xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê!

Em rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư!

Người gửi: Nguyet Ha

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

Tư vấn thủ tục khởi kiện dân sự ?

Tư vấn thủ tục khởi kiện dân sự  - Ảnh minh họa

 

Trả lời:

Chào bạn! Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Về vấn đề của bạn Công ty xin được giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003

- Bộ Luật Hình sự năm 1999

2. Nội dung phân tích:

Nhận xét về hành vi của người phạm tội:

Theo thông tin bạn cung cấp thì người bạn này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 140 Bộ Luật hình sự như sau:

" Điều 140.  Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Như vậy, việc xử lý hành vi này được thực hiện theo thủ tục tố tụng hình sự. Cụ thể:

Thứ nhất, về việc viết giấy cam kết:

Căn cứ quy định tại Điều 91 Bộ Luật tố tụng hình sự về việc cấm đi khỏi nơi cư trú thì:

" 1. Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị can, bị cáo phải làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú của mình, phải có mặt đúng thời gian, địa điểm ghi trong giấy triệu tập.

Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn để quản lý, theo dõi họ. Trong trường hợp bị can, bị cáo có lý do chính đáng phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú và phải có giấy phép của cơ quan đã áp dụng biện pháp ngăn chặn đó.

3. Bị can, bị cáo vi phạm lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác." 

Như vậy, việc làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú là đúng quy định của pháp luật.

Thứ hai, Về việc chuyển hồ sơ vụ án

 Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ Luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ thì:

" Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra."

Như vậy, thẩm quyền xét xử không phụ thuộc vào bị can cư trú ở đâu.

Thêm vào đó, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 50 Bộ Luật tố tụng hình sự thì:

" Bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án; trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã."

Vì vậy, việc chuyển hồ sơ vụ án là không đúng quy định của pháp luật.

Thứ ba, về hướng giải quyết

Trường hợp này, Tòa án nhân dân nơi đang thụ lý vụ án này đang thực hiện không đúng  thủ tục tố tụng vì vậy, bạn có thể thực hiện quyền khiếu nại của mình theo quy định tại điểm e, khoản 2 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự

Trong trường hợp này bạn có thể thực hiện quyền khiếu nại của mình theo quy định tại Điều 331 Bộ Luật này như sau:

" Điều 331. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Thẩm phán, Phó Chánh án và Chánh án Toà án

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Phó Chánh án trước khi mở phiên toà do Chánh án Toà án giải quyết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Toà án cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Toà án cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Toà án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng.

Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Toà án trước khi mở phiên tòa do Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Toà án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết cuối cùng."

Bạn lưu ý về thời hiệu khiếu nại được quy định tại Điều 328 Bộ luật này như sau:

" Thời hiệu khiếu nại là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người khiếu nại cho rằng có vi phạm pháp luật.

 Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch hoạ, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu, thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại."

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, xin đảm bảo tất cả những thông tin tư vấn hoàn toàn đúng theo tinh thần pháp luật. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi.

Trân trọng./

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh KHuê