1/ chữ "hộ gia đình" trong sổ đỏ có đảm bảo được đúng và chính xác quyền lợi hợp pháp của bà ngoại tôi không? Vì theo tìm hiểu, tôi được biết, chữ "hộ gia đình" khiến bà ngoại tôi từ một người bỏ tiền ra mua mảnh đất lại trở thành người đồng sở hữu với mảnh đất gia đình cậu út: gồm cậu, vợ cậu và 2 người con trai. Vì cậu tôi được tư vấn cho rằng, mảnh đất bà tôi mua được chia đều thành 6 phần cho ông , bà , cậu, vợ cậu và 2 người con trai (theo sổ hộ khẩu lúc làm sổ đỏ). Phần của ông bà tôi lúc này mới được chia thừa kế thành 4 phần. Vậy cho tôi hỏi chia như vậy có đúng không? Có cách nào khẳng định được mảnh đất chỉ thuộc quyền sở hữu của bà tôi không? 

 

2/ Cậu tôi ban đầu hòa giải ở xã nói rằng không có ý kiến cũng như không biết về nguồn gốc của mảnh đất. Nhưng sau này lại gửi đơn phản tố cho rằng: Năm 1993, ông bà tôi có nói với cậu là khi mua nhà mới trả được 1 cây vàng còn thiếu Bà B (tức vợ ông A - trên thực tế, ông A là chủ sở hữu mảnh đất và người có tên trong giấy tờ mua bán cũng là ông A) 5 cây vàng. Sau đó, cậu tôi vay mượn tiền để trả nốt 5 cây vàng này và nói: vì tình làng nghĩa xóm nên người ta cho nợ (20 năm??!). Thậm chí, cậu tôi còn không biết chính xác tên đầy đủ của bà B này mà chỉ gọi bà theo tên ông chồng. Bên cạnh đó, cậu và vợ có nhiều năm kinh doanh, có rất nhiều tiền để xây nhà , vợ cậu đi nước ngoài về cũng có tiền. Vì vậy cậu yêu cầu cho dù mẹ và các dì tôi có nhận được thừa kế dù chỉ 1m đất cũng phải đền bù toàn bộ số tiền xây nhà của vợ chồng cậu tôi. Để chứng minh việc cậu tôi có trả số vàng trên và việc bỏ tiền ra xây toàn bộ nhà cậu tôi có đưa ra 2 tờ giấy vay tiền (quy ra vàng) tại 2 thời điểm khác nhau được vay cùng 1 người là anh trai vợ. 1 tờ ghi là đã cho vay vàng để trả nợ tiền mua nhà cho ông bà ????! và 1 tờ ghi là đã cho vay vàng để xây nhà .

Và xin khẳng định là mẹ và các dì tôi cũng không phủ nhận chuyện tài sản là ngôi nhà gắn liền trên mảnh đất ông bà để lại do cậu tôi bỏ tiền xây dựng, sẽ hoàn thành nghĩa vụ bồi thường giá trị tài sản gắn liền được chia theo yêu cầu hợp lý từ phía pháp luật. 

Vậy tôi xin hỏi, việc cậu tôi đưa ra những chứng cứ liên quan đến việc mua bán đất như vậy có được coi là làm giả giấy tờ nhằm chiếm đoạt quyền thừa kế không? Và làm thế nào để giải quyết chữ " hộ gia đình" trong sổ đỏ để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mẹ và các dì tôi. 

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.V

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc của mình đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

CƠ SỞ PHÁP LÝ

- Luật đất đai 2013;

- Bộ luật dân sự 2005;

- Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011;

- Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

NỘ DUNG TƯ VẤN

1. Giải quyết chữ “hộ gia đình” và cách chia di sản thừa kế

Theo như bạn cung cấp thông tin, Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất có ghi cấp cho “hộ gia đình” và chủ hộ là bà ngoại bạn nên đây được xác định là tài sản chung của hộ gia đình. Căn cứ vào Điều 108 Bộ luật dân sự 2005 quy định về Tài sản chung của hộ gia đình.

Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ

Thời điểm bà ngoài bạn còn sống thì bà ngoại bạn đã không có ý kiến gì về vấn đề này, hiện tại bà bạn đã mất rồi nên việc điều chỉnh thông tin chủ sở hữu cho riêng bà bạn là rất khó. Luật đất đai 2013 có quy định về thủ tục xin đính chính lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Điều 106, Điều 86 Nghị định 43/2014/NĐ-CP nhưng trong trường hợp của bạn thì sẽ không thể thực hiện lại thủ tục này được bởi vì theo như thông tin bạn cung cấp là bà bạn đã mất thì sẽ không thực hiện được thủ tục này cho bà bạn được.

Do phần tài sản của bà bạn nằm trong khối tài sản chung gồm ông, cậu, vợ cậu và 2 người con trai nên khi bà bạn mất, phần di sản của bà bạn chỉ là 1/6 phần sở hữu đất. Căn cứ vào điều 634 Bộ luật dân sự 2005 quy định về di sản thừa kế như sau:

Điều 634 Di sản

Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần di sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.

Chính vì vậy, khi bà bạn mất thì di sản thừa kế của bà bạn được xác định là 1/6 quyền sở hữu quyền hữu đất, đúng như thông tin mà cậu bạn đưa ra.

2. Việc người cậu bạn đưa ra các bằng chứng liên quan đến việc mua bán đất

Qua thông tin bạn cung cấp, việc người cậu cung cấp các bằng chứng để chứng minh cho việc đứng ra trả tiền mua đất thời gian trước nhằm mục đích yêu cầu các thành viên trong hộ gia đình phải trừ đi khoản tiền mà cậu bạn đã chi trả. Sau đó, mới chia di sản thừa kế cho các thành viên khác. Tuy nhiên, bạn nghi ngờ rằng giấy tờ mà người cậu cung cấp là không đúng, là giả mạo giấy tờ để nhằm chiếm đoạt tài sản.

Để có thể biết được cậu bạn có đúng là giả mạo giấy tờ hay không, thì bạn phải có chứng cứ để chứng minh. Trường hợp cậu bạn và người A thỏa thuận với nhau để xác lập một giao dịch theo như giấy tờ cậu bạn cung cấp, thì bạn có quyền yêu cầu tòa án nơi cậu bạn cư trú, làm việc (Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011) tuyên bố giao dịch đó vô hiệu do giả tạo theo Điều 129 Bộ luật Dân sự:

Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.

Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu.”

Trường hợp cậu bạn đứng ra làm giả giấy tờ mua bán đất thì bạn có quyền làm đơn tố giác cậu bạn đến Cơ quan công an bởi hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự. Cụ thể là cậu của bạn đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác, thủ đoạn gian dối được cậu bạn lập kế hoạch từ trước, chính là việc lập giấy tờ giả mạo để nhằm chiếm một phần đất đai của những người thừa kế khác.

  “Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân.

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về thắc mắc của bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ