Luật sư có thể tư vấn cho tôi thủ tục lấy lại tiền khi kiện ra tòa và liệu gia đình tôi có lấy lại được số tiền đó không. Gia đình tôi có viết 1 giấy vay tiền có chữ kí 2 bên nhưng không có người làm chứng. Trong khi đó người chạy việc cho tôi làm kiểm soát ở huyện nên biết về luật hơn gia đình chúng tôi. Kính mong luật sư giúp đỡ.

Tôi xin chân thành cám ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến,gọi: 1900.1940

 

Trả lời

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi thắc mắc tới công ty Luật Minh Khuê chúng tôi. Với những thông tin mà bạn cung cấp, chứng tôi xin được tư vấn cho bạn như sau

1. Căn cứ pháp lý

Bộ Luật dân sự 2005

Bộ Luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2001

Bộ luật tố tụng dân sự 2004

2. Nội dung tư vấn

Hiện tại bạn đang muốn kiện người chạy việc để lấy tiền về hiện tại bạn chỉ có giấy vay tiền có chữ kí của hai bên. Ở đây, cần phân tích về khả năng chạy việc của người chạy việc. Nếu như người đó không có khả năng chạy việc, hoặc biết rõ không thể chạy việc cho bạn mà vẫn nhận chạy việc, nhận tiền nhằm mục đích chiếm đoạt thì đây là hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Còn nếu người đó không có hành vi gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, thì sẽ căn cứ vào các điều sau:

Căn cứ Điều 128, 137 Bộ luật dân sự 2005 như sau:

"Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng."

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường."

Giao dịch giữa bạn và người được bạn nhờ chạy việc làm cho bạn có mục đích là dùng tiền bạc để xin việc cho bạn dễ dàng hơn những người khác, vì thế xét về khía cạnh chuẩn mực đạo đức xã hội, pháp luật không bảo về những giao dịch như vậy. Và cũng theo Điều 128 Bộ luật dân sự ở trên thì đó là giao dịch dân sự vô hiệu, các bên phải trả lại cho nhau những gì đã nhận khôi phục lại tình trạng ban đầu. Trong trường hợp của bạn, muốn đòi lại đủ số tiền đã đưa cho người chạy việc, bạn có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch xin việc giữa gia đình bạn với bên xin việc vô hiệu và theo quy định tại Điều 137 bộ luật dân sự 2005 thì sau khi giao dịch dân sự bị tuyên bố vô hiệu thì các bên phải hoàn trả lại những gì đã nhận và khôi phục lại tình trạng ban đầu bên xin việc sẽ phải có nghĩa vụ trả lại đầy đủ số tiền cho bạn. Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của bạn sẽ được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

"Điều 36. Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

2. Người yêu cầu có quyền lựa chọn Toà án giải quyết yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình trong các trường hợp sau đây:
a) Đối với các yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 26 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc hoặc có trụ sở giải quyết;
b) Đối với yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bên đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết;
c) Đối với yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn thì người yêu cầu có thể yêu cầu Toà án nơi người con cư trú giải quyết"

Như vậy, bạn có thể yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn cư trú, làm việc để giải quyết yêu cầu tuyên bố hợp đồng dân sự giữa bạn và người chạy việc là vô hiệu

Tuy nhiên,  cần lưu ý rằng việc dùng tiền để xin việc này của gia đình bạn cũng có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đưa hối lộ theo quy định sau của Bộ luật Hình sự:

Điều 289. Tội đưa hối lộ

"1. Người nào đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần,  thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm  mươi triệu đồng;

e ) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, hoặc tù chung thân 

a) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ.

6. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.

Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được  trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ"

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư dân sự - Công ty luật MInh Khuê