Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Bong Nguyen

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, hiện nay bộ luật dân sự có qui định về việc tặng cho bất động sản như sau:

“Điều 467. Tặng cho bất động sản

1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản”.

Như vậy, việc tặng cho bất động sản bắt buộc phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực. Việc cha bạn cho anh hai bạn mảnh đất trên là không có giá trị pháp lý (hay giao dịch vô hiệu) vì chỉ thực hiện bằng miệng và không có văn bản. Vì vậy dù anh hai bạn có tiến hành đăng ký quyền sử dụng đất thì cha mẹ bạn vẫn có thể khởi kiện lấy lại mảnh đất đó.

 

Ý kiến trả lời bổ sung:

Cảm ơn chị đã gửi câu hỏi về chuyên mục của chúng tôi. Câu hỏi của chị được chúng tôi trả lời như sau:

Cha, mẹ bạn hoàn toàn có thể lấy lại được toàn bộ đất đó.

Liên quan đến việc tặng cho quyền sử dụng đất, khoản 1 Điều 129 Luật Đất đai năm 2003 quy định như sau:

“1. Việc nộp hồ sơ thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất được quy định như sau:

a) Hồ sơ thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất nộp tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại nông thôn thì nộp tại Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;

…Hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất gồm văn bản cam kết tặng cho hoặc hợp đồng tặng cho hoặc quyết định của tổ chức tặng cho quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Văn bản cam kết tặng cho hoặc hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước”.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 37 Luật Công chứng năm 2007“Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền công chứng các hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở”. Do vậy, các hợp đồng, giao dịch về bất động sản hiện nay đều phải được công chứng, có nghĩa là được công chứng viên tại Phòng công chứng thuộc Sở Tư pháp hoặc tại Văn phòng công chứng chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đó. Như vậy, việc cha bạn cho anh Hai bạn 1,2ha đất trồng lúa trước khi lập gia đình mà không có bất kì văn bản tặng cho đã được công chứng nào sẽ không được pháp luật công nhận, mảnh đất đó vẫn là của cha bạn./.

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng!
Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ

-------------------------------------------------