Tôi xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập bởi Chuyên mục Tư vấn Luật Dân sự Công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn về nghĩa vụ tài sản cho người đã chết ?

Luật sư tư vấn Luật Dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với vấn đề mà bạn đang thắc mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

 

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ : Về giao dịch bảo đảm

2. Nội dung tư vấn

Thứ nhất, về nghĩa vụ trả nợ của anh em bạn:

Theo quy định tại Điều 637 Bộ luật dân sự năm 2005 thì:

"Điều 637. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế.

3. Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác."

Như vậy, khi mẹ bạn mất, bạn và anh em của bạn có nghĩa vụ trả nợ số tiền mà mẹ bạn đã nợ ông B trước đó trong phạm vi di sản mình được nhận. Và việc trả nợ cho ông B còn dựa trên thứ tự ưu tiên thanh toán, sau khi thực hiện các nghĩa vụ trên, số di sản còn lại bao nhiêu thì anh em bạn mới dùng để trả cho ông B. Theo Điều 683 Bộ luật Dân sự 2005 về thứ tự ưu tiên thanh toán liên quan đến thừa kế thì Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác là một nghĩa vụ tài sản được thanh toán theo thứ tự ưu tiên được quy định tại Điều này. Cụ thể:

Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:

1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng;

2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu;

3. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ;

4. Tiền công lao động;

5. Tiền bồi thường thiệt hại;

6. Thuế và các khoản nợ khác đối với Nhà nước;

7. Tiền phạt;

8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác

9. Chi phí cho việc bảo quản di sản;

10. Các chi phí khác."

Vì vậy, sau khi thực hiện các nghĩa vụ tài sản trên, thì anh em bạn mới thực hiện tiếp đến nghĩa vụ trả nợ cho ông B đối với khoản nợ trước đây của mẹ bạn. Còn người nào từ chối nhận di sản thì sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản trong quy định trên.

Thứ hai, việc thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất để bảo đảm trả nợ là chưa đúng quy định pháp luật vì theo quy định về thế chấp quyền sử dụng đất thì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất phải có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền và phải đăng ký giao dịch bảo đảm. Cụ thể, tại Điều 130 Luật Đất đai 2003 quy định: Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Tại Điều 2 Nghị định số 08/2000/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm (là văn bản có hiệu lực pháp lý vào thời điểm ký kết và thực hiện giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất trong vụ việc này) quy định việc thế chấp tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì phải đăng ký giao dịch bảo đảm. Quyền sử dụng đất là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu. Do đó, việc thế chấp quyền sử dụng đất tại vụ việc này phải đăng ký giao dịch bảo đảm. Vì thỏa thuận thế chấp quyền sử dụng đất trong vụ việc vay tiền của mẹ bạn chỉ được lồng vào trong hợp đồng vay và không được công chứng, không được đăng ký giao dịch bảo đảm nên việc thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo trả nợ theo hợp đồng vay số 194 này là không có hiệu lực pháp lý. Khoản nợ của mẹ bạn đối với bên cho vay trở thành khoản vay không có bảo đảm. Do đó, không có căn cứ pháp lý để bên cho vay xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất khi mẹ của bạn không trả được nợ. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng ./.

Bộ phận Tư vấn Luật Dân sự