Vậy xin hỏi:

1. Người con gái thứ 2 có được thừa kế không ? (khi chính quyền đã cấp QSDĐ đứng tên là người con gái đầu) Và khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền nào ?

2. Xem xét tính pháp lý của việc cấp sổ đỏ ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.C

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  - 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin giải đáp như sau:

Cơ sở pháp lý

Bộ luật dân sự năm 2005 

Luật đất đai năm 2013 

Phân tích nội dung

+ Về quyền thừa kế của người con gái thứ hai:

Do ông bà ngoại của bạn mất không để lại di chúc nên di sản mà ông bà để lại là thửa đất 1000m2 sẽ được chia thừa kế theo quy định của pháp luật. Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau: 

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật  

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Theo đó, cả hai người con gái của ông bà đều có quyền hưởng thừa kế như nhau. Tuy nhiên, Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng có quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế như sau: 

"Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế  

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

Như vậy, thời hiệu để những người thừa kế khởi kiện yêu cầu chia di sản là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Theo quy định tại khoản 1 Điều 633 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết nên trong trường hợp này, thời điểm mở thừa kế sẽ là thời điểm ông bà ngoại của bạn mất, tức là năm 1973. Theo đó, thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản của hai người con của ông bà là 10 năm kể từ năm 1973. Hết thời hạn này, cả hai người con của ông bà đều không có quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế nữa. Vì vậy trong trường hợp này, người con thứ hai không còn quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế.

+ Về tính pháp lý của sổ đỏ

Do người con gái đầu của ông bà ngoại của bạn đã sinh sống ổn định trên mảnh đất đó từ năm 1993 mà không có tranh chấp gì, vì vậy, theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 100 Luật đất đai năm 2013 thì người con gái đầu đó hoàn toàn có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên mình.

Khoản 1 và 2 Điều 100 Luật đất đai năm 2013 quy định như sau: 

"Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất."

Theo đó, việc cơ quan có thẩm quyền cấp sổ đỏ cho người con gái đầu như vậy là hoàn toàn hợp pháp.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ.