Trên thực tế, có nhiều người do chưa nắm rõ vấn đề này, lại không có luật sư nên nhiều khi cứ nghĩ rằng phải chờ nhận bản án sơ thẩm thì mới kháng cáo. Hoặc 15 ngày là không tính vào các ngày nghỉ (thứ Bảy, Chủ Nhật), ngày lễ … Và vô tình đã làm mất đi quyền kháng cáo của mình. Hoặc cũng có trường hợp vì lý do bất khả kháng nào đó, nên không kịp làm đơn kháng cáo (Nếu không kháng cáo, sau 15 ngày bản án sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật, phải thi hành), luật tố tụng dân sự có quy định trường hợp “kháng cáo quá hạn”: Tòa xem xét và đánh giá nguyên nhân kháng cáo quá hạn, từ đó sẽ có thể chấp nhận đơn kháng cáo của đương sự - trên nguyên tắc bảo đảm quyền kháng cáo và thông cảm cho những lý do khách quan của đương sự - dẫn đến việc phải kháng cáo quá hạn.

Khi kháng cáo quá hạn, ngoài “Đơn kháng cáo” như các trường hợp chung, người kháng cáo còn phải nộp kèm một văn bản rất quan trọng là “Bản trình bày về nguyên nhân kháng cáo quá hạn”. Theo đó, nếu Bản trình bày đưa ra được những ý kiến, bằng chứng … chứng minh được lý do của việc kháng cáo quá hạn là hợp lý, thì nhiều khả năng đơn kháng cáo sẽ được chấp thuận. Vì kháng cáo quá hạn là trường hợp đặc biệt nên thay vì đương nhiên được chấp thuận như trường hợp thông thường, đơn (và Bản trình bày về lý do kháng cáo quá hạn) sẽ được chuyển lên Tòa án cấp trên để xem xét yêu cầu kháng cáo quá hạn.

Một vụ án khi đã tranh chấp ở Tòa thường rất nhiều “cạm bẫy”. Do vậy, cho dù bất kỳ ai, dù là người nào nói gì đi chăng nữa thì Quý vị cũng nên biết rằng: kháng cáo là quyền của đương sự trong một vụ án và “thời gian kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án”. Hãy làm đơn kháng cáo trong vòng 10 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu Quý vị vẫn chưa nhận được bản án sơ thẩm thì cũng không sao. Hãy “nhớ lại” bản án đã tuyên bằng miệng tại Tòa và có thể ghi chung chung là “kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm” cũng được.

Nếu Đơn kháng cáo của Quý vị được chấp nhận, Tòa án cấp trên sẽ mở phiên tòa phúc thẩm để xem xét, giải quyết (và chỉ giải quyết) các vấn đề được đề cập trong đơn kháng cáo. Hay nói cách khác, phiên tòa phúc thẩm là phiên tòa xem xét về đơn kháng cáo chứ không phải là phiên tòa xem xét về yêu cầu khởi kiện như tại phiên tòa sơ thẩm."

Vậy luật sư cho tôi xin hỏi: Nếu như đã nộp kháng cáo quá hạn và bản trình bày lý do nhưng họ vẫn không giải quyết (nghĩa là không được chấp nhận đơn kháng cáo trể hạn) thì phải làm sao khi tại phiên tòa sơ thẩm đã giải quyết không đúng, không đủ, không hợp lý? Trong tình huống như vậy phải làm cách nào để được kháng cáo hay tiếp nhận hồ sơ để giải quyết vấn đề? 

Kính mong luật sư giúp đỡ! Tôi xin chân thành cám ơn!

Câu hỏi được biên tập từ Chuyên mục Tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>>>>Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.1940

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật tố tụng dân sự 2004  (Sửa đổi, bổ sung năm 2011

Nội dung tư vấn:

Về vấn đề kháng cáo quá hạn, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (Sửa đổi, bổ sung 2011) quy định như sau:

"Điều 247. Kháng cáo quá hạn
 
1. Kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều 245 của Bộ luật này là kháng cáo quá hạn. Sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Toà án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ, nếu có cho Toà án cấp phúc thẩm.
 
2. Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Toà án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Hội đồng có quyền ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định. Toà án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn và Toà án cấp sơ thẩm; nếu Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì Toà án cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định và gửi hồ sơ vụ án cho Toà án cấp phúc thẩm."

Căn cứ quy định trên, đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện (người có quyền kháng cáo) có quyền kháng cáo quá hạn, tuy nhiên, việc chấp nhận hay không đơn kháng cáo trễ hạn là phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng thẩm phán cấp phúc thẩm. Khi đơn kháng cáo quá hạn không được chấp nhận thì bản án có hiệu lực pháp luật, đương sự không còn quyền kháng cáo. 

Như vậy, các bản án sau khi đơn kháng cáo trễ hạn không được chấp nhận, nếu bản án không bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì bản án có hiệu lực pháp luật nên, như phân tích ở trên, quyền chấp nhận đơn kháng cáo trễ hạn do Hội đồng thẩm phán phúc thẩm quyết định nên đương sự nếu không được chấp nhận đơn kháng cáo thì không có quyền kháng cáo bản án đó nữa. 

- Đối với bản án, quyết định tại phiên tòa sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì căn cứ Khoản 2, Điều 17, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011) bản án, quyết định đó được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Về việc phát hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm (thủ tục xét lại bản án khi có vi phạm pháp luật) như sau:

"Điều 284. Phát hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Trong thời hạn một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với những người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 285 của Bộ luật này để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
2. Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 285 của Bộ luật này."

Căn cứ quy định trên cùng thông tin bạn cần tư vấn thì sau khi đơn kháng cáo trễ hạn không được chấp nhận, trong thời hạn một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện thấy bán án đã tuyên không đúng, không đủ, không hợp lý do có vi phạm pháp luật thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với một trong những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (được liệt kê sau) để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm: 

- Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp (trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.)
- Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp huyện.

Đương sự để thực hiện quyền trên, cần có đơn đề nghị Đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm có các nội dung chính theo quy định tại Khoản 1, Điều 284a, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011) và phải gửi kèm theo đơn bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho người yêu cầu của mình là có căn cứ và gửi cho người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm quy định tại Điều 285 của Bộ luật này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.  

Bộ phận luật sư dân sự.