Tất cả các bác, cô trong gia đình đều đã đồng ý bằng văn bản cho gia đình tôi toàn quyền sử dụng, và bố tôi cũng đã làm và đứng tên chủ sổ đỏ. Hiện nay, trong gia đinh đang phát sinh tranh chấp liên quan tới việc các bác đòi chia số đất đó. Gia đình tôi vì sức ép nên đã kí vào bản thỏa thuận đôi bên là chia đều đất.

1. Vậy nay tôi xin hỏi là gia đình tôi có phải trao trả lại đất theo thừa kế không?

2. Hiện nay, bà nội vẫn sống cùng gia đình tôi, trong trường hợp phải chia lại đất để ở thì gia đình tôi còn phải làm thêm giấy tờ gì không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Phạm Văn Dương

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê

>>  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005

2. Nội dung tư vấn:

Theo như nội dung mà bạn trình bày thì diện tích đất này là do ông bà để lại tuy nhiên bạn lại chưa nói rõ quyền sử dụng đất này trước khi chuyển nhượng cho bố bạn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thuộc quyền sở hữu của ai. Do đó, với trường hợp của bạn, chúng tôi xin được chai thành các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Quyền sử dụng đất này vốn là của ông bà bạn đã mất để lại cho các cháu là bố bạn và các cô, dì,chú, bác của bạn. Trong trường hợp này, quyền sử dụng đất sẽ được xem là di sản thừa kế của ông bà bạn đối với những người thừa kế của ông bà. Những người thừa kế này có thể được xác định theo di chúc nếu có di chúc, nếu không có di chúc thì sẽ được chia theo pháp luật, bao gồm những đối tượng sau theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật  

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Do đó, bạn phải tự xác định trong trường hợp của gia đình bạn, những ai được xem là người thừa kế theo quy định trên của pháp luật. Sau đó,phải xác định phần quyền của mỗi người đối với di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo thừa kế theo pháp luật. Nếu những người thừa kế đều đồng ý nhường lại phần di sản mà họ được hưởng thì trong trường hợp này bố bạn mới được toàn quyền hưởng di sản thừa kế. Việc thỏa thuận phải được lập thành văn bản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005:

"Điều 681. Họp mặt những người thừa kế

1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thoả thuận những việc sau đây:

a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;

b) Cách thức phân chia di sản.

2. Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản."

Nếu không thực hiện đúng theo các quy định trên thì việc bố bạn đứng tên trên toàn bộ quyền sử dụng đất là di sản thừa kế sẽ không phù hợp với các quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, việc những người thừa kế còn lại yêu cầu chia di sản thừa kế là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.

Trường hợp 2: Quyền sử dụng đất này là tài sản chung vợ chồng giữa ông nội và bà nội bạn. Trong trường hợp này, bà nội bạn vẫn còn sống nên giá trị quyền sử dụng đất tương ứng với phần quyền của bà nội bạn trong khối tài sản chung vợ chồng sẽ không được phân chia với tư cách là di sản thừa kế. Chỉ có phần giá trị quyền sử dụng đất tương ứng phần quyền của ông nội bạn (nếu ông bạn đã mất) mới được chia thừa kế. Cách thức phân chia di sản thừa kế với phần di sản của người đã mất tương tự như trường hợp 1.

Do đó, bạn càn đối chiếu các điều kiện mà chúng tôi đã nêu trên với trường hợp của bạn để xác định việc bố bạn có được quyền đứng tên trên toàn bộ quyền sử dụng đất hay không. Nếu việc đứng tên trên toàn bộ quyền sử dụng đất của bố bạn không đáp ứng các điều kiện nêu trên thì những người thừa kế còn lại sẽ có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Nếu phải chia lại đất theo thỏa thuận giữa những người thừa kế hoặc theo bản án, quyết định của tòa thì có thể các bên có quyề và lợi ích liên quan sẽ phải tiến hành thay đổi nội dung thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho phù hợp với phần quyền của mỗi người.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê