Nhưng vợ chồng ông T sau khi nhận tiền thì không chịu thực hiện nghĩa vụ kê khai và đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất, nên tôi không thể đăng ký sang tên.  Ngày 21/04/2010, Tôi làm đơn yêu cầu UBND phường H giải quyết. UBND phường mời vợ chồng ông T đến hòa giải, nhưng hòa giải không thành và UBND phường hướng dẫn tôi khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận T.  Ngày 26/5/2010, tôi làm đơn khởi kiện vợ chồng ông T tại TAND Quận T,Tp.Hồ Chí Minh để yêu cầu vợ chồng ông T tiếp tục thực hiện hợp đồng.  Ngày 08/6/2010, TAND quận T thụ lý. Và vợ chồng ông T lẩn tránh không đến tòa. Tòa án xác minh thì biết được diện tích đất này (đã bán cho tôi) vợ chồng ông T đã bán cho người khác (có công chứng) và người này cũng đã được UBND Quận T cấp Giấy chứng nhận.  TAND quận T YÊU CẦU UBND quận T cung cấp thông tin, TAND quận T tạm đình chỉ vụ án và hướng dẫn tôi khiếu nại để yêu cầu UBND quận giải quyết khiếu nại việc đất đai (Đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đang tranh chấp tại sao lại cấp mới Giấy chứng nhận cho vợ chồng ông T. Để tiếp sau đó vợ chồng ông T bán đất cho người khác. Ngày 15/7/2011, tôi nộp đơn khiếu nại UBND quận T. Ngâm đơn của tôi một thời gian dài, đếnngày 13/9/2014, tôi nhận được Thông báo số 379/TB-VP của UBND quận T gửi cho tôi là Giao cho Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường xem xét báo cáo cho UBND. Sau đó, Phòng Tài Nguyên và Môi trường có VĂN BẢN báo cáo UBND quận T về việc vợ chồng ông T có nội dung:

 - Vợ chồng ông T làm đơn cớ mất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Hiện do tôi giữ), và được UBND phường H Thông báo ngày 27/9/2010 về niêm yết báo mất,đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 

 - Ngày 26/10/2010,UBND phường H xác nhận vào đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T – L là: ĐẤT KHÔNGTRANH CHẤP.Ngày 12/11/2010,UBND quận T cấp giấy chứng nhận cho vợ chồng ông T – L. Sau khi có Giấy chứng nhận mới, vợ chồng ông T – L bán đất cho người khác và người này cũng đã được UBND quận T cấp giấy mới. 

- Văn bản xác nhận việc cán bộ, công chức của UBND phường H vi phạm điểm e khoản 1 Điều 5 của Quyết định số: 54/2007/QĐ-UBND ngày 30/7/2007 của UBND TP.HCM.Sau đó, UBND quận T xem xét kỷ luật cán bộ, công chức của UBND phường H. 

Do vợ chồng ông T – L bỏ trốn, nên ngày 04/6/2015, TAND quận T đình chỉ vụ án. Và tiếp tục TAND Tp. Hồ Chí Minh đình chỉ vụ án bởi có văn bản của công an phường H xác minh từ tháng 4/2010 vợ chồng ông T – L đi đâu không rõ. Hôm qua ngày09/10/2015, tôi có đến UBND quậnT hỏi giải quyết vụ khiếu nại của tôi, thì tôi được cán bộ của UBND quận đưa cho văn bản số: 1125/UBND ngày 29/6/2015. Nội dung trình bày vụ việc như trên. Tôi xin hỏi:

- Tôi có được quyền yêu cầu UBND phường H bồi thường theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước không?

- Thời gian yêu cầu là bao lâu?

- Yêu cầu bồi thường như thế nào: Khi tôi mua đất là giá thỏa thuận trong hợp đồng là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) nếu yêu cầu bồi thường số tiền này thì thiệt thòi cho tôi quá.

Tôi chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập bởi chuyên mục Tư vấn Luật Dân sự của Công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn Luật Dân sự gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp luật:

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.

2. Nội dung tư vấn:

Theo quy định tại điều 13 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước về phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lí hành chính:

''Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây:

1. Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

2. Áp dụng biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính;

3. Áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác;

4. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh;

5. Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép;

6. Áp dụng thuế, phí, lệ phí; thu thuế, phí, lệ phí; truy thu thuế; thu tiền sử dụng đất;

7. Áp dụng thủ tục hải quan;

8. Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

9. Ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;

10. Cấp văn bằng bảo hộ cho người không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng sở hữu công nghiệp không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; ra quyết định chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ;

11. Không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép, văn bằng bảo hộ cho đối tượng có đủ điều kiện;

12. Các trường hợp được bồi thường khác do pháp luật quy định."

Bạn là bị thiệt hại do cán bộ công chức của phường H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật cho vợ chồng ông T - người đã bán đất cho bạn. Trường hợp này thuộc khoản 8 điều 13 nêu trên nên bạn thuộc đối tượng được bồi thường theo quy định của luật này.

Theo quy định tại khoản 1 điều 4 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước:" Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường giải quyết việc bồi thường khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc có văn bản của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này."

Như vậy, sau khi có văn bản xác nhận việc cán bộ, công chức của UBND phường H vi phạm điểm e khoản 1 Điều 5 của Quyết định số: 54/2007/QĐ-UBND ngày 30/7/2007 của UBND TP.HCM thì bạn có quyền yêu cầu UBND TPHCM hoặc Tòa án giải quyết việc bồi thường.

Khoản 1 điều 14 luật này quy định '' Cơ quan hành chính trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại là cơ quan có trách nhiệm bồi thường.'' Căn cứ vào quy định này, cơ quan có trách nhiệm bồi thường cho bạn là UBND phường H.

Về thủ tục yêu cầu bồi thường được quy định cụ thể ở  Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước như sau;

''Điều 16. Hồ sơ yêu cầu bồi thường

1. Khi nhận được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc các trường hợp quy định tại Điều 13 của Luật này thì người bị thiệt hại gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 14 của Luật này.

2. Đơn yêu cầu bồi thường có các nội dung chính sau đây:

a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường;

b) Lý do yêu cầu bồi thường;

c) Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường.

3. Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường phải có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường.

Điều 17. Thụ lý đơn yêu cầu bồi thường

1. Khi nhận hồ sơ yêu cầu bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải kiểm tra và xác định tính hợp lệ của đơn và các giấy tờ kèm theo; trường hợp hồ sơ không đầy đủ thì hướng dẫn người bị thiệt hại bổ sung.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn và các giấy tờ hợp lệ, nếu xác định yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm giải quyết của mình thì cơ quan đã nhận hồ sơ phải thụ lý và thông báo bằng văn bản về việc thụ lý đơn cho người bị thiệt hại; trường hợp yêu cầu bồi thường không thuộc trách nhiệm giải quyết của mình thì cơ quan đã tiếp nhận hồ sơ phải trả lại hồ sơ và hướng dẫn người bị thiệt hại gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết bồi thường.

Điều 18. Xác minh thiệt hại

1. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải hoàn thành việc xác minh thiệt hại để làm căn cứ xác định mức bồi thường; trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn xác minh thiệt hại có thể kéo dài nhưng không quá 40 ngày.

2. Căn cứ vào tính chất, nội dung của vụ việc, cơ quan có trách nhiệm bồi thường có thể tổ chức việc định giá tài sản, giám định thiệt hại về tài sản, giám định thiệt hại về sức khoẻ hoặc lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan về việc giải quyết bồi thường. Chi phí định giá, giám định được bảo đảm từ ngân sách nhà nước.

3. Trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý với kết quả định giá, giám định mà yêu cầu định giá, giám định lại và được cơ quan có trách nhiệm bồi thường đồng ý thì chi phí định giá, giám định lại do người bị thiệt hại chi trả, trừ trường hợp kết quả định giá, giám định chứng minh yêu cầu định giá, giám định lại là có căn cứ.

Điều 19. Thương lượng việc bồi thường

1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc việc xác minh thiệt hại, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải tổ chức và chủ trì thương lượng với người bị thiệt hại về việc giải quyết bồi thường; trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn thương lượng có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày.

2. Thành phần thương lượng gồm đại diện cơ quan có trách nhiệm bồi thường và người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ. Trong trường hợp cần thiết, người thi hành công vụ gây ra thiệt hại được mời tham gia vào việc thương lượng.

Đại diện của cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải là người có thẩm quyền để thỏa thuận việc bồi thường với người bị thiệt hại và chịu trách nhiệm trước cơ quan có trách nhiệm bồi thường.

3. Địa điểm thương lượng là trụ sở của cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc trụ sở của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị thiệt hại cư trú, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

4. Việc thương lượng phải lập thành biên bản. Biên bản thương lượng phải ghi rõ những nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm tiến hành thương lượng;

b) Địa điểm thương lượng, thành phần tham gia thương lượng;

c) Ý kiến của các bên tham gia thương lượng;

d) Những nội dung thương lượng thành hoặc không thành.

Biên bản thương lượng phải có chữ ký của các bên và được gửi cho người bị thiệt hại một bản ngay sau khi kết thúc thương lượng.

5. Kết quả thương lượng là cơ sở để quyết định việc bồi thường.

Điều 20. Quyết định giải quyết bồi thường

1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc việc thương lượng, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải ra quyết định giải quyết bồi thường. Quyết định giải quyết bồi thường phải có các nội dung chính sau đây:

a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường;

b) Tóm tắt lý do yêu cầu bồi thường;

c) Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường;

d) Mức bồi thường;

đ) Quyền khởi kiện tại Toà án trong trường hợp không tán thành với quyết định giải quyết bồi thường;

e) Hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường.

2. Quyết định giải quyết bồi thường phải được gửi cho người bị thiệt hại, cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan có trách nhiệm bồi thường và người thi hành công vụ gây ra thiệt hại.''

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên, bạn áp dụng vào trường hợp của mình để tiến hành các thủ tục yêu cầu bồi thường theo đúng quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật dân sự.