Chồng em hỏi bao lâu thì chuyển được chị H nói trong vòng 3 tháng là có kết quả chị nhờ người giúp được. Chị H bảo hết 350 triệu xin chuyển. Và yêu cầu gia đình em chuyển trước 150 triệu. Gia đình em đi vay mượn chuyển khoản cho chị H 150 triệu. Chờ hết 3 tháng gia đình em có hỏi chị H nói sếp đi công tác chưa về chưa gặp được. Gia đình em vận kiên trì chờ. Chị H lại yêu cầu gia đình em chuyển khoản tiếp 50 triệu,tiếp 100 triệu để đi gặp sếp và nói sắp được rồi. Nhưng mỗi lần gia đình em chuyển tiền xong chị H lại bặt vô âm tín không nhắc gì đến. Mỗi lần gia đình e gọi hỏi thì chị H đều nói sếp đi công tác chưa về hoặc dạo này nhiều việc quá chưa hỏi được. Sau đó 1 thời gian chị H gọi cho gia đình em bảo có quyết định chuyển rồi chỉ chờ sếp ký là xong và yêu cầu gia đình em chuyển tiếp 20 triệu để đi tiếp khách cho xong việc. Tổng số tiền gia đình em đã chuyển cho chị H là 320 triệu. Chuyển tiền xong lại im ắng không thấy chị H nhắc gì nữa. Đến tháng thứ 9 gia đình em có gọi điện cho chị H hỏi việc thế nào có lo được không thì chị H trả lời không lo được. Vì chị H không lo được nên gia đình em xin hoàn lại tiền. Chị H nói sang tuần gặp sếp để rút hồ sơ xin lại tiền. Rồi không biết bao nhiêu cái tuần sau của chị H vẫn im lặng. Đến giờ đã là năm 2016 Gia đình em gọi chị H đưa ra rất nhiều lý do,dần dần không nghe máy. Vợ chồng em sang nhà tìm cách tránh mặt. Vì là chỗ họ hàng với gia đình em nên chồng em đã không làm giấy tờ gì,nhưng chồng em có ghi âm lại các cuộc nói chuyện của chồng em với chị H về việc chuyển công tác. Và có giấy chuyển qua ngân hàng Vietin bank. Luật sư cho em hỏi như vậy có được coi là bằng chứng để kiện không ạ. Và gia đình em kiện chị H thì có ảnh hưởng đến công việc của chồng em không ạ. Và nếu kiện thì làm đơn gửi lên đâu và mẫu đơn thế nào ạ. Em rất mong được luật sư hồi âm tư vấn giúp em.

E xin chân thành cảm ơn luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009

Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định về chứng cứ và chứng minh của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi,bổ sung một số điều của BLTTDS.

Nghị định 34/2011/NĐ-CP về xử lý kỉ luật đối với công chức.

2. Nội dung tư vấn:

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì bạn giao số tiền cho chị H tổng là 320 triệu đồng. Tuy nhiên, việc giao này lại không được ký kết bằng hợp đồng ký kết giữa hai bên về vấn đề này mà hiện tại chồng bạn chỉ có ghi âm lại các cuộc nói chuyện của chồng bạn với chị H về việc chuyển công tác và có giấy chuyển tiền qua ngân hàng Vietinbank. 

Nghị quyết số 04/2012/ NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định về chứng cứ và chứng minh của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS quy định về việc xác định chứng cứ như sau:

Điều 3. Xác định chứng cứ quy định tại Điều 83 của BLTTDS

1. Theo quy định tại Điều 81 của BLTTDS, thì một trong những điều kiện của chứng cứ là phải được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Toà án hoặc do Toà án thu thập được theo trình tự, thủ tục do BLTTDS quy định; do đó, việc giao nộp chứng cứ và việc thu thập chứng cứ phải thực hiện theo đúng quy định tại các điều luật tương ứng của BLTTDS và hướng dẫn tại Nghị quyết này.

2. Để được coi là chứng cứ quy định tại Điều 81 của BLTTDS, thì việc xác định chứng cứ từ từng loại nguồn chứng cứ cụ thể như sau:

a) Các tài liệu đọc được nội dung phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận. Bản chính có thể là bản gốc hoặc bản được dùng làm cơ sở lập ra các bản sao.

b) Các tài liệu nghe được, nhìn được phải được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó. Các tài liệu này có thể là băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, phim, ảnh,… Nếu đương sự không xuất trình các văn bản nêu trên, thì tài liệu nghe được, nhìn được mà đương sự giao nộp không được coi là chứng cứ.

c) Vật chứng phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc dân sự; nếu không phải là hiện vật gốc hoặc không liên quan đến vụ việc thì không phải là chứng cứ trong vụ việc dân sự đó.

d) Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình và được xuất trình theo đúng thủ tục quy định tại khoản 2 Điều 83 của BLTTDS và hướng dẫn tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên toà.

đ) Kết luận giám định, nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục quy định của Luật Giám định tư pháp, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan và hướng dẫn tại Điều 10 của Nghị quyết này.

e) Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ, nếu việc thẩm định tại chỗ được tiến hành theo đúng thủ tục quy định tại Điều 89 của BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 9 của Nghị quyết này.

g) Tập quán, nếu được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận.

Do đó, nếu đáp ứng quy định nêu trên thì cuộc ghi âm của chồng bạn và giấy chuyển tiền qua ngân hàng sẽ được coi là nguồn chứng cứ trong vụ án khi bạn khởi kiện.

Trong trường hợp nếu như phía bên chị H không tiến hành trả lại bạn số tiền nêu trên thì bạn có quyền khởi kiện ra tòa yêu cầu chị H  thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trách nhiệm của bạn là chứng minh và cung cấp các tài liệu, chứng cứ. Tòa cũng sẽ tiến hành xác minh những thông tin bạn cung cấp để giải quyết trong trường hợp có đầy đủ căn cứ.

Về hành vi đưa tiền để chạy việc của chồng chị có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 289 của BLHS. 

BLHS quy định về đưa hối lộ như sau:

Điều 289 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
c) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;
d) Phạm tội nhiều lần;
đ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;
e) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:
a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ.
6. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.
Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ".

 Cấu thành tội phạm

- Chủ thể: người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.

- Lỗi: cố ý trực tiếp

- Hành vi khách quan: hành vi đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác cho người có chức vụ, quyền hạn. Hình thức đưa hối lộ có thể là trực tiếp hoặc thông qua trung gian. Tội phạm hoàn thành khi của hối lộ có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần.

Gây hậu quả nghiêm trọng là trường hợp gây ra thiệt hại đáng kể cho hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội.

Vi phạm nhiều lần là trường hợp đưa hối lộ từ hai lần trở lên mà mỗi lần của hối lộ đều có giá trị dưới 2 triệu đồng

Trường hợp người có chức vụ, quyền hạn và người đưa hối lộ thỏa thuận được về của hối lộ cũng như về việc làm hoặc không làm theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì người đưa hối lộ cũng được coi là phạm tội đưa hối lộ.

Như vậy, trong trường hợp nêu trên, nếu đủ yếu tố cấu thành tội đưa hối lộ như trên, chồng bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự.

Nghị định 34/2011/NĐ-CP quy định về xử lý kỉ luật đối với công chức như sau:

Điều 10. Cảnh cáo

Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

1. Cấp giấy tờ pháp lý cho người không đủ điều kiện;

2. Sử dụng thông tin, tài liệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị để vụ lợi;

3. Không chấp hành quyết định điều động, phân công công tác của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền;

4. Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tham gia đào tạo, bồi dưỡng; được dự thi nâng ngạch công chức;

5. Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 05 đến dưới 07 ngày làm việc trong một tháng;

6. Sử dụng trái phép chất ma túy bị cơ quan công an thông báo về cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi công chức đang công tác;

7. Bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;

8. Vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức nhưng đã thành khẩn kiểm điểm trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật.

Điều 14. Buộc thôi việc

Hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

1. Bị phạt tù mà không được hưởng án treo;

2. Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tuyển dụng vào cơ quan, tổ chức, đơn vị;

3. Nghiện ma túy có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;

4. Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 07 ngày làm việc trở lên trong một tháng hoặc từ 20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà đã được cơ quan sử dụng công chức thông báo bằng văn bản 03 lần liên tiếp;

5. Vi phạm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức.

Như vậy, tùy thuộc vào mức độ chịu trách nhiệm hình sự mà chông bạn có thể bị phạt cảnh cáo hoặc bị buộc thôi việc.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự qua EmailTư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua EmailTư vấn pháp luật dân sự qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư  Hình sự.