Tuy nhiên, do bà B đã ly hôn với người chồng trước nên toà án chỉ quyết định bà nuôi dưỡng 1 người con nhỏ nhất là H, 2 người còn lại là E và G toà quyết định người chồng cũ nuôi. Nay ông A muốn làm di chúc giao lại ½ tài sản chung của vợ chồng có được trong hôn nhân là 600.000.000VNĐ cho người con chung là C theo di chúc. Vậy tôi có những thắc mắc sau xin được luật sư giải đáp:

1. Nếu di chúc hợp pháp, A có nhận được hoàn toàn số tài sản 600.000.000VNĐ(1/2 tài sản chung của vợ chồng) không? Theo điều 669 BLDS thì Bà B là người thừa kế không theo di chúc, vậy lúc này cách chia theo luật sẽ như thế nào? Số tiền ông A để lại di chúc cho C có bị ảnh hưởng gì không?

2. Nếu bà A chết mà không để lại di chúc, lúc này chia theo luật sẽ như thế nào? hai người con riêng được toà quyết định cho chồng cũ nuôi dưỡng có được chia không? Xin cảm ơn!

Người gửi: P.B

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn Luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn về việc chia di sản thừa kế ?

Luật sư tư vấn Luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng vả gửi thắc mắc tới Công ty Luật Minh Khuê chúng tôi. Với những thông tin mà bạn cung cấp chúng tôi xin được tư vấn cho bạn như sau

Căn cứ pháp lý: 

Bộ luật dân sự 2005

Nội dung tư vấn:

* Chia di sản thừa kế khi ông A để lại di chúc và di chúc hợp pháp: Vấn đề C có hoàn toàn nhận được số tiền 600.000.000 đồng hay không phụ thuộc vào bà B có thuộc đối tượng quy định tại Điều 643 quy định về những người không được quyền hưởng di sản hay không.

Nếu bà B thuộc đối tượng không được hưởng di sản thì C được nhận hoàn toàn số tiền mà A để lại theo di chúc. Còn nếu B không thuộc đối tượng trên thì mặc dù trong di chúc ông A không nói là để lại tài sản cho bà B nhưng theo quy định tại điều 669 BLDS thì bà B vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật. Vì vậy mà C không được nguyên số tiền 600.000.000.đồng nữa.

"Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc  

" Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động"

* Chia di sản thừa kế nếu khi chết B không để lại di chúc

Theo quy định tại điều 675 BLDS thì việc thừa kế theo pháp luật sẽ được thực hiện khi người có di sản thùa kế không để lại di chúc. Việc thừa kế theo pháp luật sẽ được chia theo hàng thừa kế. Theo đó thứ tự hàng thừa kế theo pháp luật được quy định tại điều 676 BLDS. Trong đó hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chòng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Như vậy, theo quy định trên thì nếu B không để lại di chúc thì di sản thừa kế sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Theo thông tin của bạn thì những người được hưởng thùa kế bao gồm: C là con chung của A và B; E, G, H là con riêng của B với chồng trước. Việc hưởng di sản thừa kế của E và G không phụ thuộc vào việc sau khi bố mẹ ly hôn E và G ở với ai mà chỉ cần là con đẻ của người để lại di sản thừa kế là có quyền được hưởng.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi dành cho quý khách hàng. Ý kiến tư vấn dựa trên những quy định của pháp luật và thông tin mà quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra sự tư vấn là để cá nhân, tổ chức tham khảo. Hy vọng ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp ích được cho quý khách hàng.

TRÂN TRỌNG./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ.