. Cụ thể: 1. Trường hợp bạn chuyên viên tuyển dụng nghỉ việc: Trong tháng 05/2015 bạn ấy bị BLĐ công ty đình chỉ công tác 2 tuần, trong thời gian này bạn ấy cũng có ý muốn xin nghỉ luôn( bản thân BLĐ công ty cũng muốn bạn ấy nghỉ luôn) và BLĐ công ty đã đồng ý. Và thế là tính từ thời điểm bị đình chỉ bạn ấy không đến công ty nữa. Sau nghỉ việc bạn ấy còn tồn đọng các vấn đề sau: - Không bàn giao lại 01 điện thoại Iphone 4s ( trị giá lúc bàn giao khoảng 4tr) - Trước khi nghỉ việc làm mất 01 tài sản trị giá 3.5tr (tài sản này được giao cho bạn ấy khi đi triển khai công trình mới). Tổng trị giá tài sản là 7.5tr đồng. Tuy nhiên tháng lương cuối cùng của bạn ấy tại công ty vẫn chưa lấy còn tồn lại 4.5tr đồng. Em cũng đã gọi điện nhiều lần cho bạn ấy đến bàn giao lại số tài sản kia mà lấy lương, nhưng bạn ấy cứ khất lần này đến lần khác không đến và giờ là tháng 01/2016 rồi mà cũng không đến.

2. Trường hợp anh Quản lý thì đơn giản hơn vì mới xảy ra trong tháng 11/2015: anh ấy đã tự ý nghỉ việc và bặt vô âm tín không ai hay. Khi nghỉ việc anh ấy còn cầm của công ty duy nhất 01 điện thoại iphone 4s mà công ty đã cấp phát ( chiếc điện thoại này cùng một lô công ty mua giống anh bạn trên). Nhưng tổng số tiền lương của anh ta tại công ty đang còn khoảng 8tr. Theo quy định công ty mình nếu tự ý bỏ việc thì số tiền 8tr đó không được lấy. Theo như phương án của em thì để cho nhanh gọn thì sẽ dùng số tiền lương của các bạn ấy còn lại công ty để khấu trừ các tài sản mà họ đang giữ luôn. Tính ra công ty vẫn lãi mấy triệu vì các tài sản kia nếu mua với giá bây giờ thì khá rẻ iphone 4s thì chỉ tầm 2tr còn tài sản kia thì của tầm 2.4tr thôi. Nhưng các sếp em nhất quyết không đồng ý cứ bắt em phải soạn công văn gửi về tận nhà các nhân viên trên để yêu cầu họ lên công ty giải quyết.( theo tâm lý thì chẳng có ai tự nhiên đến công ty trả lại tàn sản còn cầm trong khi số tiền lương còn lại không được lấy cả). Em viết hơi dài tí mong luật sư thông cảm

 Cuối cùng em muốn luật sư tư vấn 2 vấn đề sau ạ: 1. Có cách nào hay và tốt nhất để giải quyết 2 trường hợp trên không ạ.

2. Nếu phải viết công văn thì em mong luật sư chia sẻ giúp em các nội dung cần viết trong công văn ạ. Vì vây là các trường hợp lần đầu gặp phải nên em khá lúng túng rất mong luật sư giúp đỡ ạ. Em xin chân thành cảm ơn

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn Luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự 19006162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động năm 2012

Thông tư 01/2011/TT-BNV Hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính

II Nội dung phân tích

1. Trường hợp của bạn chuyên viên  tuyển dụng nghỉ việc thì như bạn nói bạn này cũng có ý địn nghỉ việc và BLĐ công ty cũng đồng ý  như vậy là hai bên đã chấm dứt hợp đồng theo thỏa thuận Điều 36 Khoản 3  Bộ luật Lao động

Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

theo Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Lao động

Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

Như vậy trong trường hợp này thì cả công ty bạn và anh chuyên viên tuyển dụng  cùng phải có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các quyền lợi của mỗi bên cụ thể là anh quản lý tuyển dụng trả lại tài sản đã nhận của công ty và công ty trả tiền lương cho anh quản lý tuyển dụng đó

Còn trường hợp của anh quản lý công ty bạn là anh ý đã tự ý nghỉ việc như vậy là người lao động đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật theo Điều 41

Điều 41. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này.

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

Điều 43 Quy định về nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng.

Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Trường hợp của anh quản lý này thì anh quản lý cũng sẽ phải trả lại tài sản đã cầm của công ty và còn phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.Trong trường hợp này thì công ty bạn có thể yêu cầu anh quản lý trả lại tài sản đã cầm của công ty hoặc có thể khởi kiện ra Tòa theo quy định tại Điều 200,201 bộ luật Lao động.

Thứ nhất bạn hỏi là có cách nào tốt nhất để giải quyết vấn đề này thì chỉ có cách hai bên thỏa thuận để giải quyết. Còn nếu khi không thỏa thuận được thì tranh chấp sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật

Theo quy định tại Điều 200 và Điều 201 Bộ luật Lao động

Điều 200. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân.

Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Như vậy theo quy định của pháp luật thì tranh chấp lao động giữa anh chuyên viên tư vấn sẽ được giải quyết thông qua hòa giải nếu hòa giải không thành thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn về tranh chấp lao động giữa công tư và anh quản lý thì không nhất thiết phải thông qua hòa gải mà có thể giải quyết thông qua Tòa án.

Về việc bạn hỏi cách viết công văn, bạn có thể xem quy định về cách thức trình bày văn bản hành chính tại Thông tư  01/2011/TT-BNV THÔNG TƯ Hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!         

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật lao động.