Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn luật Minh khuê.

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư !                               

Người gửi: Dương HH

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900.1940

 

Tư vấn đòi lại tiền chạy bằng cấp trong trường đại học?

Tư vấn đòi lại tiền chạy bằng cấp trong trường đại học - Ảnh minh họa

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự năm 1999.

2. Nội dung phân tích:

 Do bạn không nói rõ người mà bạn đưa tiền để chạy bằng có chức vụ, quyền hạn gì trong trường đại học hay không, vì vậy chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

* Trường hợp 1: Nếu người mà bạn đưa tiền có chức vụ, quyền hạn liên quan:  thì người đó sẽ phạm tội nhận hối lộ hoặc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

"Điều 279.  Tội nhận hối lộ  

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào  có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Gây hậu quả nghiêm trọng;

b) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

c) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;

đ) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm  mươi triệu đồng;

g)  Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm  năm đến hai mươi năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a)  Của hối lộ  có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Phân tích tội quy định tại điều 279 Bộ luật Hình sự:

- Chủ thể: người có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ. Như vậy, người phạm tội phải là người có chức vụ, quyền hạn. Chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện việc nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ.

- Hành vi: Người phạm tội phải trực tiếp nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ hoặc người phạm tội qua trung gian để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ: Người nhận hối lộ phải có hành vi nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất của người đưa hối lộ, hành vi này có thể trực tiếp hoặc qua trung quan (người thứ 3 hoặc nhiều người khác).

Đã nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác: người nhận hối lộ đã chiếm hữu số tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác

Sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác: Người nhận hối lộ và người đưa hối lộ mới thỏa thuận với nhau về tiền/tài sản hối lộ nhưng chưa giao nhận.

Để làm hoặc không làm một việc gì vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ: Đây là dấu hiệu rất quan trọng thuộc mặt khách quan của tội phạm này.

Đã làm một việc vì lợi ích cua người đưa hối lộ là hành vi sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình để giải quyết cho người đưa hối lộ một việc nào đó mà việc đó có lợi cho chính người đưa hối lộ.

Không làm một việc vì lợi ích của người đưa hối lộ: Là trường hợp vì đã nhận hối lộ nên người phạm tội không thực hiện một việc mà lẽ ra họ phải thực hiện và do không thực hiện nhiệm vụ đó nên đã đem lại lợi ích cho người đưa hối lộ.

Không làm một việc theo yêu cầu của người đưa hối lộ: Là trường hợp cũng tương tự như trường hợp không làm một việc vì lợi ích của người đưa hối lộ, chỉ khác ở chỗ: lợi ích mà người nhận hối lộ mang lại không phải cho người đưa hối lộ mà là cho người khác mà người đưa hối lộ quan tâm, có thể là những người thân của người đưa hối lộ nhưng cũng có thể là bạn bè của người đưa hối lộ.

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trong trường hợp này, nếu người mà bạn đưa tiền có chức vụ, quyền hạn để thực hiện những yêu cầu của bạn thì người đó phạm tội nhận hối lộ. Bạn là người đưa tiền vì vậy bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đưa hối lộ quy định tại điều 289 Bộ luật Hình sự. Số tiền mà bạn đưa cho người đó sẽ bị tịch thu theo quy định tại điều 41 Bộ luật Hình sự:

"Điều 41. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm

1. Việc  tịch thu, sung quỹ nhà nước được áp dụng đối với:

a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;

b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có;

c) Vật  thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành.

2. Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

3. Vật, tiền thuộc tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu, sung quỹ nhà nước."

Nếu người đó lợi dụng chức vụ, quyền hạn dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của bạn thì tài sản đó sẽ được trả lại cho bạn.

* Trường hợp 2: Nếu người mà bạn đưa tiền không có chức vụ, quyền hạn:

Nếu người mà bạn đưa tiền không có chức vụ, quyền hạn liên quan và cũng không có quan hệ với những người có chức vụ, quyền hạn để thực hiện yêu cầu của bạn thì người đó phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 139 Bộ luật Hình sự.

Tài sản mà bạn bị chiếm đoạt sẽ được trả lại theo quy định tại điều 42 Bộ luật Hình sự:

"Điều 42.  Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi

1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.

2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại."

Trong trường hợp này bạn có thể viết đơn kiện gửi tới cơ quan có thẩm quyền để giải quyết.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê