Lúc gửi tiền,em có làm giấy biên nhận tiền với số tiền là 400 triệu đồng,e có đầy đủ giấy biên nhận tiền có chữ kí của cả 2 bên. Biên lai gửi tiền qua ngân hàng vào tài khoản của người đấy,file ghi âm cuộc hội thoại lúc giao nhận tiền,video quay lại lúc viết giấy biên nhận tiền,và các tin nhắn cuộc gọi nói về vấn đề nhận tiền và hứa hẹn lo việc. E nghi ngờ người này nhận tiền của em không lo việc mà để dùng vào mục đich cá nhân. Người đấy đang là sinh viên của 1 trường cảnh sát,không phải người giữu chức vụ lớn gì. Vậy trong trường hợp này,nếu người đấy không trả tiền,em có thể kiện người đấy được không? Kiện về dân sự hay hình sự. Nếu hình sự thì kiện người đấy tội gì và nếu như số tiền đấy người ta nhận mà không lo việc cho em mà dùng vào mục đích cá nhân em có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đưa hối lộ không????? Rất mong các luật sư trả lời giúp em trong thời gian nhanh nhất. Xin cảm ơn!

Người gửi: N.V.T

Câu hỏi đươc biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn về việc đòi lại tiền khi nhờ người lo việc không thành nhưng không trả lại?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung Câu hỏi của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005 

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 

Nội dung tư vấn:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn có nhờ người đó xin việc hộ và đã giao số tiền là 400 triệu đồng, nhưng sau khi nhận tiền thì người đó không giúp được mà cũng không trả lại tiền, bạn đã yêu cầu người đó hoàn trả số tiền mà người đó không trả và cứ khất lượt. Bạn có đầy đủ các giấy tờ,giấy biên nhận tiền, biên lai gửi tiền qua ngân hàng vào tài khoản của người đấy,file ghi âm cuộc hội thoại lúc giao nhận tiền,video quay lại lúc viết giấy biên nhận tiền,và các tin nhắn cuộc gọi nói về vấn đề nhận tiền và hứa hẹn lo việc. Do đó bạn có thể khởi kiện ra toà yêu cầu người đó trả nợ.

Với hành vi này , tùy thuộc vào các tình tiết trên thực tế mà có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc cũng có thể chỉ là hành vi vi phạm pháp luật dân sự thông thường.

 Trường hợp 1: thực tế  người đó không có khả năng xin được việc nhưng đã có những hành vi, thủ đoạn gian dối để cho bạn lầm tưởng rằng có khả năng xin được việc để bạn tin tưởng giao tiền cho người đó thì hành vi này có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009): "Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.".

- Trường hợp 2, trước khi nhận tiền người đó không có thủ đoạn gian dối mà sau khi nhận tiền của bạn người đó không xin được việc rồi mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản đó không trả thì có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự:

"1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

 a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

 b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản".

- Trường hợp người đó có hành vi nhận 400 triệu đồng để xin việc cho bạn mà vẫn không xin được vì nhiều lý do khác nhau mà không có hành vi bỏ trốn và chiếm đoạt 400 triệu đồng nói trên, thì đó chỉ là hành vi vi phạm luật dân sự (vi phạm hợp đồng).

Nếu như hành vi của người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì bạn có thể trình báo với cơ quan công an để yêu cầu giải quyết. Trường hợp hành vi này chỉ là vi phạm pháp luật dân sự thì bạn có thể khởi kiện ra tòa án để yêu cầu giải quyết đòi lại số tiền mình đã đưa cho người đó.

Nếu như khởi kiện về hình sự,vì người đó là sinh viên không có chức vụ gì lớn trong trường nên nếu sau khi nhận tiền từ bạn người đó đem hối lộ người có chức vụ, quyền hạn để xin việc cho  bạn thì hành vi này cấu thành tội làm môi giới hối lộ theo quy định tại Điều 290 bộ luật hình sự 1999 sửa đổi năm 2009 : "Người nào làm môi giới hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm". Trường hợp hối lộ từ trên 300 triệu đồng thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Điều này đồng nghĩa với việc bạn cũng sẽ bị truy cứu về tội đưa hối lộ theo quy định tại Điều 289 Bộ luật hình sự.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự.