Xin hỏi Luật Sư tờ giấy vay đến nay còn hiệu lực hay không, không có chữ ký của e và nhân chứng thì giấy vay kia có hợp lệ không, em yêu cầu ông A trả theo lãi suất có ghi trong giấy vay có được không hay theo lãi suất của nhà nước (theo diện ông A không có khả năng trả trong thời điểm đó). Em xin trân thành cảm ơn Luật Sư ạ?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự Luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162              

        

Trả lời:

Kính chào và cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Luật Minh Khuê của chúng tôi,với câu hỏi trên chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005

2. Nội dung phân tích:

 Ông A có vay em 1,5 chỉ vàng từ năm 1997 đến nay vẫn chưa trả có ràng buộc bằng giấy tay do ông A viết và ký tên nhưng em không ký vào giấy vay đó, có người làm chứng nhưng không có chữ ký của người làm chứng. Do có vài vấn đề liên quan, em muốn khởi kiện ông A yêu cầu trả em số vàng đã vay.?

Xin trả lời là tờ giấy vay vẫn còn hiệu lực, không có chữ ký của bạn và người làm chứng thì tớ giấy vay vẫn có hiệu lực.

Theo Khoản 1 Điều 401 Bộ Luật dân sự 2005 quy định: “ Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định”.

Tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005: "Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Hợp đồng vay tài sản là một trong các hợp đồng dân sự thông thường, pháp luật không quy định hợp đồng vay tài sản phải được giao kết bằng một hình thức nhất định. Vì vậy, căn cứ quy định trên, hợp đồng vay tài sản có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

>>Như vậy thì hợp đồng cho vay tài sản có thể được thỏa thuận ,giao kết bằng lời nói ,bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.Trong trường hợp của bạn thì ngay cả khi không có tờ giấy cho vay tiền mới chỉ ký tên người vay là ông A thì chỉ cần thỏa thuận cho vay ,bạn chứng minh được bạn đã cho ông A vay 1,5 cây vàng là được.Huống hồ bạn lại còn có cả tờ giấy vay của ông A, và cả người làm chứng mặc dù không có chữ ký của họ.Như vậy thì hợp đồng cho vay này vẫn có giá trị pháp lý

Theo quy định của pháp luật hợp đồng chỉ vô hiệu khi:

1. Các bên tham gia giao dịch không có năng lực hành vi dân sự.

Đối với cá nhân, Theo quy định chung, người xác lập, thực hiện hợp đồng vay tài sản phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: Đó là người từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, không mất năng lực hành vi dân sự. Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 20 Bộ luật Dân sự, người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cũng có thể tự mình xác lập và thực hiện hợp đồng nếu có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

2 Mục đích và nội dung của hợp đồng vay tiền vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Nếu hợp đồng vay tiền có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì hợp đồng đó vô hiệu.

Ví dụ: Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự quy định “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.” Như vậy, nếu hợp đồng vay tiền có điều khoản về lãi suất thì lãi suất vay không được vượt quá 1,5 lần lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước công bố. Nếu các bên thỏa thuận lãi suất vượt quá quy định trên thì hợp đồng vô hiệu.

3. Người tham gia giao dịch không hoàn toàn tự nguyện.

Hợp đồng vay tiền phải được ký kết dựa trên sự tự nguyện, ý chí chủ quan của các bên tham gia. Nếu hợp đồng được xác lập không dựa trên ý chí tự nguyện của một trong các bên thì hợp đồng đó vô hiệu. Bộ luật Dân sự quy định các trường hợp giao dịch vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể:

+ Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 129)

+ Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 131)

+ Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa (Điều 132)

+ Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 133)

Tóm lại hợp đồng vay tài sản có thể được thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Để xác định hợp đồng vay tiền có hiệu lực hay không cần dựa trên cơ sở hợp đồng có được giao kết hợp pháp hay không.Tức là hợp đồng đã tuân thủ theo 3 điều kiện như trên chưa

2,Bạn dược quyền yêu cầu ông A trả tiền theo lãi suất trong giấy vay nhưng lãi suất đó không được vượt quá 150 % lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước tạo thời điểm cho vay theo khoản 1 Điều 476 BLDS.Còn nếu bạn cho vay với lãi suất cao hơn quy định trên thì khi tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì ông A chỉ  phải trả bạn với lãi suất tối đa là 150% mức lãi suất cơ bản,

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn.Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến bạn chưa hiểu hết vấn đề hoặc và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của bạn.

Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê