1. Tư vấn về việc khởi kiện người cho vay nặng lãi?

Thưa luật sư! Em có vấn đề mong luật sư tư vấn như sau: Đứa em và cô vậy 1 tỷ 2 trăm triệu của bà Ạ. Mà đứa em và cô em bảo rằng trả lãi cho bà A vào 6 tháng số tiền lên tới 600 trăm triệu. Trong đó 1 tỷ là đóng 36 triệu ,200 triệu là 7 triệu 2 tức là 1 tháng đóng 43 triệu. Tháng nào chậm lãi tính lãi mẹ đẻ lãi con 200 nghìn 1 ngày có tháng em và cô em phải trả lãi tới 72 triệu.
Do mấy tháng gần em ý và cô ko chịu trả lãi nên người ta chuẩn bị siết nhà em và đòi 1 tỷ 600 triệu không thì siết nhà em bán. Cho em hỏi là như thế có phải là vay nặng lãi không? Mình có thể kiện người ta cho vay nặng lãi không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn về việc khởi kiện người cho vay nặng lãi?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi:1900.6162

Luật sư tư vấn:

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp, thì giao dịch giữa em và cô bạn và những người cho vay nặng lãi là giao dịch dân sự vô hiệu, do đó,em bạn và cô bạn có thể yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch dân sự vô hiệu, khi đó các bên sẽ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định:

* Điều 163. Tội cho vay lãi nặng
1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.
2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo quy định của pháp luật tại Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước , thì lãi suất một năm là 9%, với số tiền 1 tỷ 200 triệu thì số tiền lãi phải trả mỗi tháng là 9 triệu và 6 tháng sẽ là 54 triệu, tuy nhiên ở đây em và cô bạn phải trả 600 triệu là gấp 11 lần so với mức quy đinh. Như vậy, người cho em và cô bạn vay đã phạm tội cho vay nặng lãi và bạn có thể tố cáo tới cơ quan chức năng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Tư vấn quy định về tội cho vay nặng lãi ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em gái em đi vay 8 triệu 500 nghìn đồng với lãi suất 7 nghìn/ngày/triệu . Vay từ tháng 11-2014 đến tháng 6 này lên tới 20 triệu họ bắt kí giấy vay nợ tiền lãi người ta cho vào tiền gốc. Như vậy có phải là vay nặng lãi không ạ ? Người ta cho vay như vậy có vi phạm pháp luật không ạ ? Em xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: V.D.H

Tư vấn quy định về tội cho vay nặng lãi ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Hiện nay theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau:

Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Hơn nữa Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:

"Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng".

Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm, có hiệu lực từ ngày 01/12/2010.Như vậy lãi suất cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước là 13,5 % / năm ( 1,125%/tháng).

Em gái bạn vay với lãi suất 7000 đồng/ngày/triệu: như vậy 7000/1.000.000 x 100%= 0.7%/ngày

Lãi suất cho vay theo tháng là 30x0,7% = 21%/tháng

Như vậy, người cho em bạn vay với mức lãi suất đến 21%/tháng là hành vi vi phạm pháp luật về việc áp dụng lãi suất cho vay theo quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự nói trên vì đã vượt quá 10 lần lãi suất cho vay của Ngân hàngnhà nước. Khi có tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng vay thì Nhà nước không bảo vệ quyền lợi cho bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước mà áp dụng các quy định hiện hành về lãi suất để áp dụng.

Đối với hành vi trên thì em bạn có thể làm đơn tố cáo ra cơ quan công an về hành vi của người cho vay vì có hành vi cho vay nặng lãi. Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định như sau:

Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại gọi 1900.6162

Trân trọng./.

3. Cho vay nặng lãi bị xử lý như thế nào ?

Thưa Luật sư, em có cho một người bạn vay số tiền là 100.000.000 (một trăm triệu đồng ) với lãi suất là 4000 đồng/1 triệu/ 1 ngày, cho em hỏi là trong trường hợp người ta khởi kiện em vì cho vay lãi suất cao thì em phải chịu trách nhiệm gì không? Trong giấy vay nợ không ghi lãi suất chỉ ghi số tiền vay và 10% số tiền bồi thường vay nếu bên vay trả không đúng thời hạn như giấy vay nợ đã quy định thời gian.

Mong Luật sư tư vấn giúp em.

Em xin chân thành cảm ơn!

Cho vay nặng lãi bị xử lý như thế nào?

Tư vấn luật dân sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau:

"1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Như vậy, đối với trường hợp các bên thỏa thuận về mức lãi thì lãi suất cho vay không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Cho đến năm 2015, Ngân hàng nhà nước vẫn mức lãi suất cơ bản bản đồng Việt Nam là 9%/năm theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. Theo quy định này thì có thể xác định được mức lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận khi cho vay tiền là:

+ Mức lãi suất năm: 9 x 150% = 13,5%/năm

+ Tương ứng mức lãi suất tính theo tháng: 13,5 : 12 = 1,125%/tháng.

Như vậy, nếu bạn cho vay số tiền 100.000.000 đồng mà lấy lãi 4000 đồng/triệu/ngày tức là 400.000 đồng/ngày tương đương với 12.000.000 đồng/tháng như vậy lãi suất là : 12%/tháng tức là 144%/năm.

Điều này có nghĩa lãi suất lớn hơn 150% lãi suất cơ bản của ngân hàng 10,6 lần cho nên đây là hoạt động cho vay nặng lãi.

Nếu trong hợp đồng vay tài sản, các bên có thỏa thuận về mức lãi suất vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, khi có tranh chấp xảy ra thì Nhà nước không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi cho bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Như vậy, bên vay có thể yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của ngân hàng và bên vay chỉ thực hiện nghĩa vụ trả lãi ở mức lãi suất tối đa theo quy định pháp luật (150% lãi suất cơ bản của ngân hàng).

Với hành vi này, bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cho vay nặng lãi " Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm. (Điều 163 Bộ luật hình sự năm 1999,Bộ luật hình sự 2009 sửa đổi, bổ sung).

Theo như thông tin bạn cung cấp, trong giấy vay nợ chỉ ghi số tiền vay và 10% số tiền bồi thường vay nếu bên vay trả không đúng thời hạn cho nên bạn chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi bên vay đưa ra được bằng chứng bạn cho vay quá lãi suất quy định.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi. Trân trọng./.

4. Lãi suất bao nhiêu được gọi là cho vay nặng lãi ?

Thưa Luật sư, em có câu hỏi mong luật sư giúp đỡ. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên tôi có vay số tiền là 25 triệu đồng. Khi vay tôi phải mua bảo hiểm 2 triệu đồng, còn được nhận 23 triệu đồng. Thời hạn cho vay là 12 tháng, mỗi tháng phải trả 2.363.000 đồng. Như vậy có được xem là cho vay nặng lãi không?
Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

Lãi suất bao nhiêu được gọi là cho vay nặng lãi?

Tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau:

"1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Như vậy, đối với trường hợp các bên thỏa thuận về mức lãi thì lãi suất cho vay không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Cho đến năm 2015, Ngân hàng nhà nước vẫn mức lãi suất cơ bản bản đồng Việt Nam là 9%/năm theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam . Theo quy định này thì có thể xác định được mức lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận khi cho vay tiền là:

+ Mức lãi suất năm: 9 x 150% = 13,5%/năm

+ Tương ứng mức lãi suất tính theo tháng: 13,5 : 12 = 1,125%/tháng.

Như vậy, nếu bạn vay 25.000.000 đồng mà phải trả lãi 2.363.000 đồng/tháng như vậy lãi suất là 2.363.000:25.000.000=9,452%/tháng, có nghĩa là 113,424%/năm.

Điều này có nghĩa lãi suất so với mức 150% lãi suất cơ bản của ngân hàng gần 8,4 lần. Đây là hành vi vi phạm pháp luật.

Nếu trong hợp đồng vay tài sản, các bên có thỏa thuận về mức lãi suất vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, khi có tranh chấp xảy ra thì Nhà nước không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi cho bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Như vậy, bạn có thể yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của ngân hàng và chỉ thực hiện nghĩa vụ trả lãi ở mức lãi suất tối đa theo quy định pháp luật (150% lãi suất cơ bản của ngân hàng).

Với hành vi này, bên cho vay có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điểm d khỏa 3 Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình: "Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay."

Trong trường hợp của bạn, mặc dù hành vi của người cho vay là cho vay tiền với lãi suất vượt quá quy định cho phép nhưng chưa đến mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự cho nên bên cho vay sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng nếu cho vay có nhận cầm cố tài sản; không bị xử phạt hành chính nếu bạn không nhận cầm cố tài sản.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi. Trân trọng./.

5. Vay nặng lãi không trả đúng thời hạn có bị tội hình sự không ?

Kính thưa luật sư, vừa qua em có vay nặng lãi 50.000.000 đồng; lãi 10 ngàn đồng/1 ngày/1 triệu, Đến lúc em không có khả năng đóng lãi, chủ nợ đe dọa và buộc em ký tên vào biên nhận 65.000.000 đồng, và đến nay chủ nợ đã kiện em. Vậy em có bị buộc vào tội lừa đảo không? Vì trong biên nhận ký nợ ghi không lấy lãi, nhưng thực tế em đã đóng lãi 36.000.000 đồng ( em vay từ tháng 10/2015).

Kính Nhờ Luật sư tư vấn giúp em!

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về cho chúng tôi.

Vay nặng lãi không trả đúng thời hạn có bị tội hình sự không ?

Luật sư tư vấn luật hình sự, gọi:1900.6162

Trả lời:

Về phía của bạn: Bộ luật hình sự 1999, BLHS sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội lừa đảo như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo đó, để cấu thành tội lừa đảo phải có các dấu hiệu sau:

Về khách quan, phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.

Khách thể là quyền sở hữu tài sản của người khác.

Chủ thể là bất cứ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

Từ những thông tin bạn cung cấp, có thể thấy bạn không có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở đây, do vậy, bạn sẽ không cấu thành tội lừa đảo theo quy định tại BLHS.

Về hoạt động cho vay của tổ chức cho vay nặng lãi:

Khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 có quy định về lãi suất vay như sau: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam, kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2010, lãi suất cơ bản là 9%/ năm.

Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/ năm

Trong trường hợp của bạn, bạn vay 50 triệu, với lãi suất 10.000 đồng/1 triệu/ngày, tức lãi suất 30%/tháng, gấp 26,6 lần mức lãi suất tối đa pháp luật cho phép.

Theo quy định tại Điều 163 như sau:

"Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy, nếu có giấy tờ chứng minh về việc đóng lãi, bạn có thể khởi kiện lại tổ chức bạn vay nặng lãi theo Điều 163 BLHS. Khi kiện ra tòa, nếu chứng minh được hoạt động cho vay của tổ chức đó là nặng lãi, nhằm kiếm lời thì tổ chức đó sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 163, về số tiền bạn phải trả cho họ sẽ bao gồm: số tiền đi vay + số tiền lãi theo lãi suất không quá 13,5%/năm theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

6. Vay 6,16% 1 tháng có bị phạm tội cho vay nặng lãi không ?

Thưa luật sư, tôi có thắc mắc mong được luật sư giải đáp: Cho vay 6,16% một tháng nhằm 73,92 một năm vậy họ có bị vi phạm tội cho vay nặng lãi hay không ?
Tên khách hàng: L.V Nhi

Vay 6,16% 1 tháng có bị phạm tội cho vay nặng lãi không ?

Khoản 1, Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 (Văn bản thay thế: Bộ luật dân sự năm 2015)

Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng

- Như vậy, theo quy định trên của Bộ luật dân sự thì nếu lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng thì gọi là "cho vay nặng lãi". Tùy thuộc vào thời điểm bạn vay mà xác định lại xuất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định theo từng thời kỳ.Tuy nhiên, không phải trường hợp cho vay nặng lãi nào cũng cấu thành tội cho vay nặng lãi.

Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm

Như vậy, theo 2 điều luật trên, thì lãi suất do 2 bên thỏa thuận không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố và dấu hiệu của tội vay nặng lại là lãi suất cao hơn mức thỏa thuận trên 10 lần. Ví dụ lãi suất ngân hàng là 8%/năm => lãi suất thỏa thuận lớn nhất bằng 8%*150%=1200%/năm => lại suất là dấu hiệu của tội vay nặng lãi khi cao hơn 1200%*10= 12000%/năm.

Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay

Khi thỏa mãn cả 2 điều trên thì sẽ cấu thành tội vay nặng lãi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê