Trước cổng KCN là nơi người đi bộ qua đường và không có giải phân cách giữa đường. Tôi chạy ngang khu công nghiệp khoảng 30m (tốc độ hiện tại khoảng từ 40-50km/h) thì va chạm phải với 1 người đi bộ từ phía trong đường băng ra giữa đường (chi tiết hình ảnh đính kèm sau khi CSGT đã xử lý, người này trong tình trạng say rượu) tại nơi va chạm là tuyến đường 2 chiều có 3 làn tôi chạy làn thứ 2 từ trong ra (vị trí va chạm nằm giữa làn thứ 02) và có giải phân cách giữa đường.

 Sau khi va chạm thì tôi có đưa người bị nạn vào phía bên trong lề đồng thời hỏi hang về tình trạng sức khỏe thì người ngày nói đau ngang lưng đồng thời tôi gọi điện cho xe cấp cứu lại để đưa người bị nạn vào bệnh vện để đều trị liền, trong quá trình đợi xe cấp cứu thì người tôi tiếp tục hỏi anh có sao không thì người thanh niên này nói không sau (tên Thạch Sa Ri sinh 1991) sau đó thì người đi đường liền gọi giao thông lại để xử lý hiện trường. Tiếp theo đó thì tôi và người bị nạn và 1 anh công an lên xe cấp cứu để vào bệnh viện, sau khi vào bệnh viện thì BS kết luận tôi và nam thanh niên không sao chỉ trầy sướt ngoài da. Đồng thời tôi hỏi BS xác định là nam thanh niên không sao và tôi liên hệ để thanh toán tiền viện phí của cả 02 người sau đó tôi đi về. Người nhà nạn nhân đang gây khó dễ cho tôi về bồi thường mặc dù chưa xác định ai đúng ai sai, trong khi đó tôi cũng đã trả tiền viện phí rồi. Tôi đang rất hoang mang về trường hợp của mình và muốn nhờ c.ty tư vấn về trường hợp của tôi, là tôi có vi phạm luật giao thông hay không? Vì tôi biết theo quy định nếu tôi không vi phạm luật giao thông thì cảnh sát giao thông phải trả lại phương tiện cho tôi liền, hoặc nếu có tạm giữ phương tiện gì thì phải có xác nhận hoặc biên bản (nhưng tôi chưa tường thấy biên bản nào và chưa hề ký bất kỳ giấy tờ nào) và tôi nên làm gì trong tình huống này để có thể lấy phương tiện ra được sớm nhất (tôi cũng được biết là CSGT chỉ có quyền giữ phương tiện của tôi tối đa là 7 ngày, tôi muốn lấy xe sớm để đi làm). Mong công ty giải đáp dùm tôi.

Cám ơn quý công ty đã dành thời gian đọc email của tôi. Trân trọng./.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư dân sự tư vấn pháp luật : 190 6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

I Cơ sở pháp lý

Thông tư số 13/2009 TT-BGTVT (ngày 17/7/2009) quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng khi tham gia giao thông đường bộ 

Nghị định 171/2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt

Luật khiếu nại năm 2011

Bộ luật dân sự năm 2005

II. Nội dung tư vấn:

Trong thông tư số 13/2009 TT-BGTVT (ngày 17/7/2009) quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng khi tham gia giao thông đường bộ như sau:

Điều 6 Tốc độ tối đa cho phép xe cơ giới tham gia giao thông trên đường bộ trong khu vực đông dân cư được quy định như sau:

* Ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi, ô tô  tải có trọng tải từ 3500kg trở lên, ô tô sơ mi rơ moóc, ô tô kéo rơ moóc, ô tô kéo xe khác, ô tô chuyên dùng, xe ô tô, xe gắn máy                

40km/h

Như vậy nếu như trong trường hợp bạn đi xe máy trong khu vực đông dân cư mà bạn đi với tốc độ 50km/h thì như vậy bạn đã vi phạm luật giao thông đường bộ về tốc độ tối đa cho phep của xe máy là 40km/h.Như vậy bạn phải xác định xem tại thời điểm xảy ra va chạm bạn đi với tốc độ bao nhiêu. Nếu đi quá 40km/h là bạn vi phạm và theo quy định tại khoản3c và 5a điều 6 Nghị định 171/2013

3. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

c) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h;

5. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h;

 Theo quy định Về việc tạm giữ phương tiện 

 Tạm giữ phương tiện giao thông có liên quan:

 Khi vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra, các phương tiện giao thông có liên quan đều phải được tạm giữ để phục vụ công tác khám nghiệm, điều tra giải quyết (trừ các phương tiện giao thông ưu tiên theo quy định). Việc tạm giữ phương tiện giao thông phải được lập biên bản, ghi rõ tình trạng phương tiện bị tạm giữ;

Về thời hạn tạm giữ phương tiện:

Căn cứ quy định tại khoản 8 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính thì:

"  Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Như vậy trong trường hợp vi phạm này bạn sẽ bị tạm giữ xe trong vòng 07 ngày. Và bạn sẽ bị xử phạt;: Trường hợp thứ nhất nếu bạn vi phạm quy định tại khoản 3c thì bạn chỉ  tiến hành nộp phạt luôn . Nếu bạn vi phạm quy định tại khoản 5a thì bạn sẽ bị xử lý lập biên bản vì mức phạt đã quá 250.000 Nghìn đồng theo quy định của luật xử lý vi phạm hành chính nếu quá 250.000 đồng thì phải lập biên bản. theo khoản 1Điều 56 Luật xử lý vi phạm hành chính

Điều 56. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản

1. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ.

Như vậy tối đa 07 ngày nếu cơ quan công an vẫn  giữ xe của bạn thì bạn có thể khiếu nại đến người trực tiếp giữ xe của bạn . Nếu họ không giải quyết thì bạn có thể khiếu nại lên người quản lý của họ hoặc khởi kiện để được giải quyết theo quy định của Luật khiếu nại theo khoản 1 Điều 7 và khoản 1,2,3 Điều 8

Điều 7. Trình tự khiếu nại

1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Điều 8. Hình thức khiếu nại

1. Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.

2. Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.

3. Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này

Về trách nhiệm bồi thường cho người bạn gây thiệt hại thì theo Điều 604,605 Bộ luật dân sự năm 2005

Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Như vậy bạn và bị hại có thể thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại.Nếu hai bên không thỏa thuận được thì bạn hoặc họ có thể nhờ Tòa án giải quyết.Tòa án sẽ căn cứ vào thiệt hại sức khỏe của người đó để xác định số tiền bạn phải bồi thường

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự.