Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: D.T.M.H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn dân sự gọi: 1900 6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý

Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 

Luật hôn nhân gia đình 52/2014/QH13 

Nội dung phân tích

Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014 định nghĩa tài sản chung vợ chồng như sau: "Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng."

Về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì mỗi người có quyền định đoạt một nửa số tài sản đó. Như vậy, 8 công đất là tài sản chung của anh chị bạn, cho nên 4 công đất sẽ thuộc quyền sử dụng của anh bạn, 4 công đất còn lại thuộc quyền sử dụng của chị bạn.

Trong trường hợp của bạn, nếu chị bạn mất thì số tài sản đó được chia thừa kế. Nếu chị bạn mất có để lại di chúc thì chia theo di chúc, nếu không để lại di chúc thì tài sản này sẽ được chia theo pháp luật.

Trong trường hợp thừa kế theo di chúc thì các cháu của bạn được hưởng thừa kế nếu trong di chúc có đề cập đến việc các con được hưởng thừa kế mẹ để lại. Nếu các cháu của bạn chưa thành niên hoặc đã thành niên không có khả năng lao động thì được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc ( điều 669 Bộ luật dân sự 2005) và được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản.

Trong trường hợp chia theo pháp luật thì người thừa kế theo pháp luật được quy định tại điều 676 Bộ luật dân sự 2005, cụ thể:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật   

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Như vậy, trong trường hợp này, các cháu của bạn tức là con của chị bạn hoàn toàn có quyền hưởng thừa kế quyền sử dụng đất mà chị bạn để lại. Cụ thể chị bạn có 6 người con, cho nên quyền sử dụng 4 công đất đó sẽ được chia làm 7 phần, 1 phần cho anh bạn và 6 phần cho 6 đứa cháu.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài tư vấn: 1900 6162.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.