Theo án sơ thẩm tuyên không đúng với số tiền thực của tôi đã đóng tiền hụi thay cho bà L là những khoản tiền hụi bà L trả chậm, cho đến khi những phần hụi kết thúc là 579.000.000 đồng nên tôi không đồng ý. - Tôi là chủ hụi hưởng hoa hồng theo sự thỏa thuận giữa những người tham gia chơi hụi, đến ngày mở hụi tôi đều thông báo tất cả các thành viên tham gia chơi đến kêu hụi, thành viên nào kêu cao thì được lãnh hụi. Bà L tham gia chơi hụi nhiều đầu hụi bà L tự nguyện kêu hụi và bà đã hốt tất cả các phần hụi bà đã tham gia, và bà không đóng hụi chết cho tôi nên tôi đóng thay cho bà L tất cả các phần hụi bà tham gia cho đến ngày mãn hụi. Vậy bà L trả cho tôi các phần hụi chậm trả và phải đóng lãi suất cho tôi các phần hụi chậm trả, theo khoản 2, điều 30, chương 4 trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về hụi, họ, bêu, phường.

- Theo án sơ thẩm tuyên án bác bỏ yêu cầu của tôi về người có nghĩa vụ liên quan là ông Đặng Tấn K, mối quan hệ người bị kiện là: Chồng, ở cùng địa chỉ; Với mối quan hệ giao dịch của tôi và bà L đã 25 năm để tạo ra nguồn thu, chi trong gia đình nên ông K có trách nhiệm và nghĩa vụ trong giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Mỗi lần Tôi qua nhà bà L góp tiền hụi hoặc giao tiền hụi công khai minh bạch đều có chồng và con bà L thấy. Bà L chơi hụi với tôi với mục đích là mượn vốn để bà kinh doanh phân bón thuốc trừ sâu, tạo nguồn thu nhập nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho gia đình. Vào ngày 01/8/2009 bà L có hốt 01 phần hụi tháng 10.000.000 đồng với số tiền là 239.000.000 đồng, tôi đem tiền qua giao cho bà L nhưng bà đi vắng tôi giao tiền hụi cho chồng bà là ông Đặng Tấn K đã nhận tiền của tôi. Vì những lý do trên tôi kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm xét xử từ ngày 3/8 đến ngày 5/8/2015 và kính đề nghị Quí Toà xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm, theo khoản 2, điều 30, chương 4 trong Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; và theo điều 27 (trách nhiệm liên đới của vợ, chồng), Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19/06/2014 của Quốc hội. - Nội dung nêu trên tôi có làm tờ tường trình gửi tòa phúc thẩm, Tôi làm như vậy có đúng với Luật định hay không? - Cho tôi biết hướng giải quyết của Tòa án phúc thẩm như thế nào? Tôi rất mong đợi ý kiến tư vấn của Luật sư.

Tôi chân thành cám ơn!

Người gửi:B.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty luật MINH KHUÊ.

>> Luật sư tư vấn luật trực tuyến qua điện thoại, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Nghị định 144/2006/NĐ-CP về họ,hụi,biêu,phường.

2. Nội dung tư vấn:

Về trách nhiệm liên đới

Theo như nội dung thư bạn trình bày thì ông K là chồng bà L hiện nay bà L là ngừoi bị kiện trong vụ án bạn đã nộp kháng cáo phúc thẩm và không biết ông L có là người chịu trách nhiệm liên đới không thì theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014  hai vợ chồng có nghĩa vụ chung về tài sản khi thuộc một trong các trường hợp sau:

“Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.”

Theo thông tin bạn cung cấp thì ông K là chồng bà L có biết chuyện vợ mình chơi hụi,có chứng kiến bà L nhận tiền hụi ,có lần cũng nhận tiền hụi thay cho L hơn nữa số tiền bà L chơi hụi nếu như bạn chứng minh được rằng bà L dùng số tiền đó để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì bạn có đủ chứng cứ để chứng minh ông K là người có trách nhiệm liên đới thep quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Nghĩa vụ trả nợ:

Theo như bạn cũng biết thì tại khoản 2 điều 30 nghị định 144/2006 quy định như sau:

Điều 30. Trách nhiệm của thành viên do không góp họ

2. Trong trường hợp thành viên không góp phần họ, chủ họ đã góp các phần họ thay cho thành viên đó thì thành viên phải trả cho chủ họ các phần họ chậm trả và khoản lãi đối với các phần họ chậm trả. Mức lãi do các bên thoả thuận, nếu không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được thì áp dụng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm trả các phần họ.

Theo khoản 2 điều này thì bà L có nghĩa vụ phải trả cho bạn là chủ họ các phần họ chậm trả và khoản lãi đối với các phần họ chậm trả với phần họ mà bạn góp thay cho bà L mức lãi do các bên thoả thuận, nếu không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được thì áp dụng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm trả các phần họ .Nếu như bạn kháng cáo để phúc thẩm lại vụ án thì bạn cũng phải đưa ra các giấy tờ chứng minh được bạn đã trả các phần họ thay cho bà L và bà L chưa trả cho bạn các phần mà bạn đã trả thay đó,khi bạn có đầy đủ chứng cứ chứng minh được điều đó thì tòa phúc thẩm sẽ ra quyết định bảo về quyền lợi cho bạn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!         

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê