Thực tế đây là tiền con trai tôi muốn đưa để mua nhà cho con nó ở vì mỗi tháng con trai vẫn cho con nó khoảng 2 triệu. Khi con trai tôi xin tôi cho bán nhà đất để lấy tiền đưa vợ nó tôi không đồng ý và tôi đã kêu nó trả lại phần nhà đất này (vì phần nhà đất này tôi cho để ở chứ tôi không cho bán (chỉ thỏa thuận miệng có các con tôi làm chứng chứ không được ghi trong hợp đồng), tôi biết nếu đưa con dâu tôi nó sẽ tiêu xài hết mà không lo mua nhà cho cháu tôi, tôi chỉ muốn giữ để khi cháu tôi đủ 18 tuổi tôi sẽ cho tiền cháu mua nhà). Vào tháng 5/2014 con trai tôi sang tên trả lại nhà đất cho tôi. Đến tháng 6/2014 vợ cháu làm đơn yêu cầu thi hành án kê biên nhà đất này và thi hành án chấp thuận. Vậy cho tôi hỏi:

- Cơ quan thi hành án có quyền kê biên nhà đất này không? Như vậy có hợp lệ không? Tôi có quyền khởi kiện không? Tôi sẽ khởi kiện ai?

- Khi bán đấu giá tài sản thì con trai tôi sẽ phải đưa con dâu tôi toàn bộ 300 triệu hay đưa theo thỏa thuận ghi trong quyết định của tòa án?

- Khi mua nhà chỉ để con dâu tôi là đại diện đứng tên chủ quyền thay cháu tôi có được không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.T.T.C

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bác! Cảm ơn bác đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bác, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý:

- Luật dân sự 2005

Luật hôn nhân và gia đình 2014 

- Thông tư liên tịch 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC: Hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự

Nội dung phân tích

- Cơ quan thi hành án có quyền kê biên nhà đất này không?

Căn cứ Thông tư liên tịch 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC: áp dụng biện pháp kê biên tài sản khi:

"Điều 6. Kê biên, xử lý tài sản để thi hành án

1. Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thực hiện việc khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án.

Kể từ thời điểm có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà tài sản bị bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố cho người khác, người phải thi hành án không thừa nhận tài sản là của mình thì bị kê biên, xử lý để thi hành án."

Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản được áp dụng khi người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền, mặc dù người này có điều kiện thi hành (có tài sản) nhưng không tự nguyện thi hành. Chấp hành viên hoặc người được thi hành án phải tiến hành xác minh tài sản của người phải thi hành án và khi có căn cứ cho thấy người phải thi hành án là con trai bác có tài sản nhưng không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên mới tiến hành kê biên để thi hành án, vì theo quy định thì chỉ được kê biên tài sản thuộc sở hữu của người phải thi hành án.

Xét thấy có căn cứ thì việc kê biên nhà đất là hoàn toàn hợp lệ. Ngược lại cơ quan thi hành án xem xét đơn yêu cầu của đương sự, xét thấy không cần kê biên ví dụ như con trai bác còn tài sản khác đảm bảo cho việc thi hành án cấp dưỡng thì không tiến hành kê biên, bán đấu giá. 

- Ngoài ra nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định rõ trong luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 107. Nghĩa vụ cấp dưỡng

1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

2. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này."

 Hiện tại nếu như quyền sở hữu nhà đất hợp pháp đứng tên con trai bác, thì bác không có quyền khởi kiện.

- Nếu như có quyết định bán đấu giá tài sản, có yêu cầu thi hành án thì con trai bạn sẽ phải thực hiện bản án ly hôn với số tiền cấp dưỡng và mức cấp dưỡng như quy định của bản án. Trừ trường hợp có yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng và được tòa chấp nhận.

- Hiện tại cháu bác chưa đủ 18 tuổi, cháu có thể đứng tên trên giấy chứng nhận sở hữu nhà và con trai hoặc con dâu sẽ là người đại diện theo pháp luật

Khoản 1 Điều 20 Bộ luật Dân sự quy định: “Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác”.

Như vậy, theo quy định này của pháp luật, cháu bác cần có người đại diện theo pháp luật. Điều 141 Bộ luật Dân sự có quy định các trường hợp người đại diện theo pháp luật như sau:

“1. Cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

2. Người giám hộ đối với người được giám hộ;

3. Người được Toà án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

4. Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

5. Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình;

6. Tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác;

7. Những người khác theo quy định của pháp luật.”

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bác đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900 6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự.