Cô ấy không tìm hiểu mà khẳng định là em làm và kiện em đến Cơ quan, Tòa án nơi em cư trú. Cơ quan chưa tìm hiểu nhưng đã buộc đình chỉ công tác em. Em đã tìm được địa chỉ người đăng và số điện thoại người này thừa nhận đã làm và em có ghi âm lại cuộc gọi đó. Em có ba vấn đề cần hỏi 1/ Cơ quan đình chỉ công tác là đúng không? 2/Với bằng chứng mà em có được em có thể minh oan cho mình không? 3/Khi mọi việc rõ ràng là em vô tội, em có quyền khởi kiện lại không và thủ tục thế nào?

Em xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn luật dân sự, gọi 1900.6162.

Trả lời:

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

Cơ sở pháp lý

Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011

Luật viên chức 2010

Luật Cán bộ, công chức 2008

Bộ luật lao động 2012

Nội dung tư vấn

Câu 1:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì chúng tôi không rõ bạn làm trong loại hình doanh nghiệp nhà nước hay các loại hình doanh nghiệp khác (tư nhân, hợp danh, cổ phần hay trách nhiệm hữu hạn) nên việc xác định quyết định đình chỉ công tác của công ty như vậy có đúng không. Chính vì vậy, chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn theo 2 hướng sau:

- Nếu bạn làm trong công ty nhà nước, đơn vị sự nghiệp:

Do bạn cung cấp thông tin chưa rõ nên chúng tôi không biết bạn là công chức hay viên chức nên theo quy định tại Luật Cán bộ, công chức và Luật viên chức thì công ty bạn sẽ không thể ra quyết định đình chỉ công tác đối với bạn mà chỉ có thể ra quyết đinh tạm đình chỉ công tác. Cụ thể, quy định tại điều 81 Luật Cán bộ, công chức và điều 54 Luật viên chức về việc tạm đình chỉ công tác.

- Nếu như bạn làm việc trong các loại hình doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp nhà nước thì :

 Trường hợp này, công ty sẽ không thể ra quyết định đình chỉ công tác của bạn mà  quyết đình này sẽ có tên là: quyết định tạm đình chỉ công việc theo Bộ luật lao động 2012

Điều 129. Tạm đình chỉ công việc

"1. Người sử dụng lao động có quyền tạm đình chỉ công việc của người lao động khi vụ việc vi phạm có những tình tiết phức tạp, nếu xét thấy để người lao động tiếp tục làm việc sẽ gây khó khăn cho việc xác minh. Việc tạm đình chỉ công việc của người lao động chỉ được thực hiện sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.

2. Thời hạn tạm đình chỉ công việc không được quá 15 ngày, trường hợp đặc biệt cũng không được quá 90 ngày. Trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc, người lao động được tạm ứng 50% tiền lương trước khi bị đình chỉ công việc.

Hết thời hạn tạm đình chỉ công việc, người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc.

3. Trường hợp người lao động bị xử lý kỷ luật lao động, người lao động cũng không phải trả lại số tiền lương đã tạm ứng.

4. Trường hợp người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động thì được người sử dụng lao động trả đủ tiền lương cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc”.

Như vậy, nếu công ty không đưa ra được căn cứ chứng minh việc để bạn tiếp tục làm việc sẽ bị bạn gây khó khăn trong quá trình điều tra thì quyết định đình chỉ công việc là vi phạm pháp luật. Đồng thời, bạn nên lưu ý đến việc khi ra quyết định tạm đình chỉ công việc của bạn công ty bạn có tiến hành việc tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở hay không. Nếu như công ty không tiến hành việc tham khảo ý kiến như trên thì việc đình chỉ công việc của bạn là không hợp pháp.

Câu 2:

Theo như bạn trình bày, bạn đã tìm được người đăng ảnh, đồng thời bạn có ghi âm cuôc gọi trong đó người đó đã thừa nhận hành vi của mình. Theo Bộ luật tố tụng dân sự 2004:

Điều 82. Nguồn chứng cứ
Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:
1. Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;
2. Các vật chứng;
3. Lời khai của đương sự;
4. Lời khai của người làm chứng;
5. Kết luận giám định;
6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
7. Tập quán;
8. Kết quả định giá tài sản;
9. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.

Khoản 2 Điều 83 BLTTDS quy định: Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.

Như vây, bạn có thể minh oan cho mình bằng những chứng cứ bạn đang có nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.

Câu 3:

Theo BLTTDS 2004

Điều 176. Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn
1. Cùng với việc phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện thì bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn.
2. Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn được chấp nhận khi có một trong các trường hợp sau đây:
a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn;
b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn;
c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
3. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.
Như vậy, đơn yêu cầu phản tố của bạn sẽ được chấp nhận nếu thuộc một trong các trường hợp tại khoản 2 Điều 176. Lưu ý đơn yêu cầu phản tố phải đưa ra trước khi Tòa án đưa ra quyết định xét xử sơ thẩm.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật dân sự.