1. Tư vấn về xác định lỗi và bồi thường khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tại khu vực ngã ba nếu tôi qua đường đúng và đầy đủ điều kiện để qua đường, tôi có tín hiệu xin đường từ xa, đèn chiếu sáng đầy đủ và tôi đã di chuyển chậm và tới sát lề trong cùng của phía bên kia đường thì tôi có vi phạm luật giao thông không ? 

Trong khi xe trên đường thẳng thiếu quan sát, không bật đèn chiếu sáng và di chuyển tốc độ cao. Vì xe moto ngược chiều chạy sát đến tôi họ mới phát hiện ra và lách vào trong và xe tôi di chuyển theo hướng xéo nên phần bên hông thân xe của xe ngược lại va chạm vào phần bên hông của bánh trước xe tôi. Tôi chỉ bị chấn thương phần mềm nhưng thiệt hại phí sửa chửa cho xe tôi tới 10trieu. Phía xe moto gây tai nạn cho tôi bị gãy tay và xe hư nhẹ. Tôi có thương lượng tôi lo tiền thuốc và tiền sửa chửa 2 bên chia đôi. Nhưng phía bên kia ko đồng ý bắt tôi chịu hoàn toàn tất cả chi phí vì cho rằng lỗi hoàn toàn do tôi .

Nếu đưa ra pháp luật thì họ sẽ xử như thế nào, ai là người vi phạm và bồi thường ra sao ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.B.N

Tư vấn về xác định lỗi và bồi thường khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900.6162

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Đối với trường hợp của bạn, tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Theo như bạn trình bày, thì người đi ngược chiều đã có hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ. Các hành vi vi phạm của người đi ngược chiều sẽ bị xử phạt theo quy định tại điểm c Khoản 2; điểm c Khoản 6 Điều 6 Nghị định 171/2013/NĐ-CP như sau:

Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện hành vi "không sử dụng đèn chiếu sáng khi trời tối hoặc khi sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn"; phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe có hành vi "không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; vượt xe hoặc chuyển làn đường trái quy định gây tai nạn giao thông" và ngoài phạt tiền người đi ngược chiều còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng.

Điều 623 Bộ luật Dân sự 2005 (Bộ luật Dân sự 2015) quy định về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra:

"1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Như vậy, trong trường hợp này người gây tai nạn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phụ thuộc vào việc có lỗi hay không vì người này đang điều khiển nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định tại Điều 623.

Nếu người gây tai nạn không chịu bồi thường thiệt hại bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án sẽ căn cứ vào thiệt hại thực tế xảy ra để yêu cầu người gây tai nạn phải bồi thường thiệt hại.

>> Xem thêm:  Tư vấn xử lý trường hợp xe container gây tai nạn giao thông ?

2. Đâm vào đuôi xe tải dừng đỗ thì có được bồi thường ?

8/1/2018 tôi lái xe ô tô tham gia giao thông lúc 5h sáng, húc vào đuôi xe tải, xe tải đó dừng đỗ xe ở giữa đường hai chiều, k có tín hiệu cảnh báo, không đèn phanh, không đèn xi nhan, xe không có đăng kiểm. Xe tôi giấy tờ đầy đủ. Vậy tôi nhờ cty luật minh khuê giải đáp giúp tôi bên nào đúng, bên nào sai. Tôi có được đền bù không ? 

Nếu hai bên không thỏa thuận đc thì thủ tục ra tòa khởi kiện như thế nào. Tôi xin cảm ơn.

- Nguyễn Mạnh Bình

 

Luật sư Lê Minh Trường trả lời VOV2 về hành vi bỏ chạy khi gây tai nạn giao thông

3. Trách nhiệm bồi thường do tai nạn giao thông ?

Kính gửi quý công ty. Được biết quý công ty có dịch vụ tư vấn pháp luật cho khách hàng qua mail. Nay tôi gặp phải vấn đề khó xử nên kính nhờ quý công ty tư vấn giúp cho tôi trong trường hợp cụ thể sau:vào hồi 13h chiều ngày 15/11/2017, vợ tôi lái xe chở hai con đi chơi, khi mới xuất phát từ khu vui chơi trẻ em ra về thì xảy ra va chạm với xe máy, vận tốc khi vợ tôi chạy xe là khoảng 30km/h. Chiếc xe này do anh a điều khiển chở chị b ngồi sau đi chơi, chị b là người địa phương còn anh a không phải là người địa phương khi cầm lái, trong khi lưu thông do hai con tôi cãi nhau trên xe nên vợ tôi có quay lại quát hai con, khi quay lại thì thấy xe máy va chạm với xe của vợ tôi, do thời gian xảy ra quá nhanh nên vợ tôi cũng không biết chính xác là lỗi của bên nào, xe máy va chạm và đổ về bên trái đầu xe vợ tôi. Đoạn đường xảy ra tai va chạm là ngã tư, đoạn giao nhau không có đèn tín hiệu giao thông, đường thông thoáng, khi va chạm xe máy đổ về bên trái đầu xe vợ tôi, người cầm lái anh a không bị chầy xước gì còn chị b ngồi sau bị ngã xuống đường. Khi xảy ra tai nạn có một anh công an phường chạy tới và gọi anh trai của chị b cũng là công an phường tới hiện trường vụ tai nạn, hai bên thống nhất là giải quyết nội bộ nên không lập biên bản hiện trường tai nạn mà chỉ viết biên bản thỏa thuận giải quyết nội bộ, mọi chi phí viện phí sẽ chi trả bởi vợ tôi. ( biên bản là do anh trai chị b là công an phường viết)ngay sau khi xảy ra tai nạn, vợ tôi đã bắt taxi đưa chị b đi bệnh viện lê lợi-tp vũng tàu chụp phim, khám và bệnh viện kết luận chỉ bị đau phần mềm do va chạm, tuy nhiên do chưa yên tâm với kết quả khám tại bệnh viện lê lợi nên muốn chuyển viện lên tuyến trên là bệnh viên chấn thương chỉnh hình tp-hcm. Khi chị b chuyển viện, vợ tôi có hỗ trợ ban đầu cho chị b là 3. 000. 000đ và thuê xe đưa lên bệnh viện tp- hcm để khámtại đây, chị b bác sỹ kết luận là dãn dây chằng và cần phải mổ. Sau đó, tôi và vợ tôi có lên thăm hỏi và hỗ trợ thêm 27. 000. 000đ nữa, bao gồm 20tr tiền đóng viện phí trước khi mổ và 7. 000. 000đ cho tiền xài trong quá trình nằm viện, tổng số tiền vợ chồng tôi đã đưa cho gia đình chị b là 30. 000. 000đ và căn dặn gia đình là phải lấy hóa đơn của bệnh viện để thanh toán sau này. Khi chị b xuất viện về chi phí cho phẫu thuật khoảng 7. 000. 000đ cộng các chi phí khác như chi phí ăn uống, chụp phim, xe cứu thường đưa chị b xuất viện…dựa trên hóa đơn là khoảng 18. 000. 000đ. Chi phí ăn uống chị b chi cho cả người thân, bạn bè tới thăm, giá ăn sáng khoảng 70. 000đ/ xuất, chi phí xe đi lại cho người thân chị b cũng tính cho vợ chồng tôi…v. v. Khi xuất viện chị b về nhà của bố mẹ vợ chồng tôi cũng mua quà tới thăm khoảng 2, 3 lần tuy nhiên gia đình chị b nói là cứ yên tâm đi làm không cần phải tới nhiều như vậy, khi nào có vấn đề gì hoặc chị b bình phục hai gia đình sẽ ngồi lại tính toán lại chi phí. Hiện nay gia đình chị b gọi cho vợ tôi xuống nói chuyện và yêu cầu đưa thêm tạm thời là 20. 000. 000đ để chi trả: trả tiền nhà trọ chi chị b hai tháng là 10. 000. 000đ và hai tháng tiền lương chị b do không đi làm là 16. 000. 000đ, tất cả những chi phí này không có trong biên bản thỏa thuận ban đầu và chị b đi thuê nhà trọ cũng không thông báo hay thỏa thuận với vợ chồng tôi mà chỉ nói là sẽ có hóa đơn thuê nhà trọ.
Gia đình chị b cũng yêu cầu là sẽ cần tiền đề làm thẩm mỹ vết mổ. Vợ chồng tôi chưa đồng ý với điều kiện nhà chị b đưa ra vì số tiền 30. 000. 000đ vợ chồng tôi đưa để chi phí thuốc men, viện phí, ăn uống khi nằm viện vẫn chưa hết, còn tiền nhà trọ, lương của chị b vợ chồng tôi đang xem xét vì nếu chị b làm 100. 000. 000đ/ tháng có nghĩa là tôi phải trả 200. 000. 000đ nên gia đình chị b luôn hù dọa đòi kiện ra toà, cho người theo dõi gia đình tôi, dùng nhiều số điện thoại để gọi cho gia đình tôi ( gia đình chị b có anh trai làm công an phường tôi ở). Vậy kính mong quý công ty tư vấn giúp tôi trong trường hợp này ai sai ai đúng. Nếu ra tòa gia đình tôi sẽ chịu trách nhiệm gì và mức đền bù (nếu có) là bao nhiêu. Các chi phí vợ chồng tôi phải trả là chi phí gì. Phí khởi kiện và các loại phí liên quan do bên nào chịu. Vợ tôi có bị truy tố không ?
Rất mong nhận được sự phản hồi. Kính thư.  
- Hoang Bao Chung

4. Hỏi về mức bồi thường bị tai nạn giao thông ?

Khi tôi trên đường đi học bằng xe có dung tích 50 xi lanh (gọi tắt 50cc)thì bị tai nạn và nhập viện. Khi về thanh toán lại thì phía bảo hiểm nói tôi cần giấy chứng nhận lái xe 50cc của người dưới 18 tuổi. Và lúc tôi bị tai nạn tôi 15 tuổi nhưng hiện nay tôi hơn 16 tuổi rồi ?
Xin cảm ơn công ty.
- Huỳnh Tuấn Khanh

5. Người có lỗi hay bên bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi ở Hà Nội, vừa rồi ngày 11/6/15, tôi bị 1 tai nạn giao thông tại Yên Bình - Yên Bái và xe kia ở tại địa phương. 

Khi xảy ra tai nạn tôi đã thông báo cho cơ quan công an và Bảo Việt (xe tôi có tham gia cả BH TNDS và vật chất. Phía bên xe kia cũng thông báo cho Bảo hiểm Pjico, nhưng xe bên đó chỉ tham gia Bảo hiểm TNDS). Các bên đã xem xét hiện trường, Cơ quan Công an đã thông báo bên tôi là bị hại và cho 2 bên thương lượng. Tôi là bên bị hại được viết giấy xin xe để đưa về Gara kiểm tu chi tiết sửa chữa và lấy báo giá để cùng với bên có lỗi gây tai nạn thương lượng. Do thiệt hại trên 300 triệu nên bên xe kia không có thiện trí hợp tác giải quyết dân sự. Tôi cũng làm việc với phía Bảo hiểm (BH) bên tôi xem có cách nào hỗ trợ để giảm thiểu trách nhiệm bồi thường của bên kia, nhưng phía BH bên tôi chỉ nói nếu xe tôi sai thì sẽ được BH chi trả thiệt hại, Bên thứ 3 sai thì họ phải chịu trách nhiệm và phía BH sẽ chỉ nhận ủy quyền của tôi để can thiệp đòi bồi thường của bên thứ 3 (sẽ phải đưa ra tòa án). Tôi được biết thì bên thứ 3 chỉ có BH TNDS, BH bên đó chỉ chi trả tối đa là 70 triệu/vụ. Nhưng sau đó xe kia cũng đã được Cơ quan công an giải quyết cho đưa đi sửa chữa trong khi vụ việc chưa được giải quyết. Qua thương lượng qua lại 2 bên thì bên kia chỉ nói là cả tiền BH phía bên họ chi trả và họ chỉ có khả năng lo được 100 triệu. Vì sau khi đưa vào Gara kiểm tra chi tiết thì thiệt hại là trên 300 triệu mà tôi cũng là Lái xe ăn lương nên không có khả năng khắc phục nên số tiền bồi thường như thế là chưa thỏa đáng. Đến nay đã là 26/6/15, 15 ngày mà không thỏa thuận được. Tôi đã thông báo cho cơ quan công an tình hình là như thế để cơ quan công an giải quyết.

Xin luật sư tư vấn cho tôi:

- Cách giải quyết của cơ quan công an như thế có hợp lý không khi đã cho cả xe kia đi sửa chữa?

- Nếu vụ việc phải đưa ra tòa án giải quyết thì tôi có được hưởng quyền lợi gì từ Bảo hiểm bên tôi tham gia không, thời gian gian quyết tối đa khoảng bao lâu, trong thời gian điều tra và giải quyết vụ việc thì tôi có được giải quyết giấy tờ và bằng lái xe để tôi có thể vẫn tiếp tục công việc được không?

- Việc đề nghị giải quyết bằng pháp luật là do cơ quan công an chủ động hay tôi phải có đơn từ gì không?

- Việc xe tôi được đưa về để đánh giá, báo giá thiệt hại và việc cơ quan công an cho xe kia đi sửa chữa khi vụ việc chưa được giải quyết, có ảnh hưởng gì đến việc giải quyết của tòa sau này không?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: T.L

Người có lỗi hay bên bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường khi xảy ra tai nạn giao thông?

Luật sư tư vấn luật dân sự, giao thông trực tuyến, gọi:1900.6162

 

Trả lời:

Thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cách giải quyết của Công an

Khoản 8 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định:

"Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề."

Theo quy định trên thì thời hạn tạm giữ xe và giấy tờ là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Như vậy, khi hết thời hạn tạm giữ thì cơ quan Công an có trách nhiệm trả lại phương tiện cho chủ phương tiện mà không phụ thuộc vào việc bạn có đơn xin xe hay không.

2. Yêu cầu Tòa án giải quyết

* Quyền lợi được hưởng từ doanh nghiệp bảo hiểm

Điều 7 Nghị định 103/2008/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, quy định về phạm vi bồi thường thiệt hại như sau:

"1. Thiệt hại về thân thể, tính mạng và tài sản đối với bên thứ ba do xe cơ giới gây ra.

2. Thiệt hại về thân thể và tính mạng của hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành khách do xe cơ giới gây ra."

Theo quy định này, khi bạn tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thì doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về thân thể, tính mạng và tài sản cho bên bị tai nạn. Như vậy, bạn sẽ không được hưởng bảo hiểm trách nhiệm dân sự từ doanh nghiệp bảo hiểm trong trường hợp này.

Còn đối với bảo hiểm vật chất xe ô tô thì công ty bảo hiểm sẽ bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm những thiệt hại vật chất xe ô tô xảy ra do:

- Những tai nạn bất ngờ, bất khả kháng trong những trường hợp: Đâm va, lật, đổ, rơi; Hoả hoạn, cháy, nổ; Bị các vật thể khác rơi hoặc va chạm vào;

- Những tai hoạ bất khả kháng do thiên nhiên: Bão, lũ lụt, sụt lở, sét đánh (trực tiếp), động đất, mưa đá, sóng thần;

- Mất cắp, mất cướp toàn bộ xe ô tô.

Như vậy, tuy không được hưởng quyền lợi từ bảo hiểm trách nhiệm dân sự nhưng bạn vẫn sẽ được hưởng quyền lợi từ công ty bảo hiểm do bạn có tham gia bảo hiểm vật chất xe ô tô.

* Thời hạn giải quyết vụ án dân sự

Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định:

"1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật này, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

2. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tuỳ từng trường hợp, Toà án ra một trong các quyết định sau đây:

a) Công nhận sự thoả thuận của các đương sự;

b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án;

c) Đình chỉ giải quyết vụ án;

d) Đưa vụ án ra xét xử.

3. Trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng."

Như vậy, việc giải quyết vụ án dân sự có thể mất hơn 8 tháng tùy theo từng loại vụ án.

* Hồ sơ khởi kiện bao gồm:

- Đơn khởi kiện

- Các giấy tờ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện (thiệt hại thực tế xảy ra: chi phí sửa chữa xe; chi phí khám chữa bệnh...)

- CNND, hộ khẩu (bản sao có chứng thực)

Như vậy, trong hồ sơ khởi kiện không yêu cầu bạn phải nộp bằng lái xe nên bạn vẫn có thể giữ lại bằng lái xe để tiếp tục công việc.

3. Giải quyết vụ tai nạn giao thông

Cơ quan có thẩm quyền sẽ giải quyết vụ tai nạn giao thông theo một trong hai hướng sau:

- Quyết định khởi tố vụ án nếu có dấu hiệu tội phạm. Trường hợp này, vụ tai nạn giao thông sẽ được giải quyết tiếp theo thủ tục tố tụng hình sự

- Quyết định không khởi tố vụ án nếu vụ án không có dấu hiệu tội phạm. Trường hợp này vụ tai nạn giao thông sẽ được giải quyết tiếp theo thủ tục hành chính.

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm giải quyết vụ việc theo thủ tục tố tụng hình sự hoặc theo thủ tục hành chính; còn nếu bạn muốn giải quyết vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự thì bạn phải nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết.

Việc xe bạn được đưa về để đánh giá, báo giá thiệt hại thì đây cũng chính là căn cứ để bạn chứng minh thiệt hại thực tế xảy ra trước Tòa hay nói cách khác việc này còn giúp cho việc giải quyết được dễ dàng hơn. Còn đối với việc xe kia sửa chữa khi vụ việc chưa được giải quyết thì việc này cũng không ảnh hưởng gì đến việc giải quyết của Tòa án vì người này gây ra tai nạn nên họ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bạn chứ bạn không có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho người này nếu người này cũng có thiệt hại về tài sản.

>> Xem ngay:  Truy cứu trách nhiệm hình sự và mức bồi thường đối với với hành vi gây tai nạn giao thông?

6. Giảm án đối với trường hợp gây tai nạn giao thông ?

Thưa Luật sư, em có câu hỏi muốn được giải đáp: Em có người anh trai chạy xe tải mà gây tai nạn giao thông , hiện trường là do anh em từ trên lề phải chạy về gặp ông kia say rượu sang lề phải do quá đột ngột nên anh em đã lấy sang bên trái để tránh nhưng do hốt hoảng ông đó đã va chạm vào thành xe và bị kéo lên sang trái hết cả 2 xe làm cho ông đó tử vong, 

Công an đã đến hiện trường làm việc , trong đó có người của viện kiểm soát luôn . Nhưng theo em được biết thì lỗi thuộc về anh em hết . Vậy cho em hỏi nếu như vậy có ở tù không vậy , gia đình anh em đang nuôi bà nội già và con nhỏ mới sinh năm 2015 . Vậy có cách nào để được giảm án mức thấp nhất không , hoặc có cách nào không kết án không do sợ ảnh hưởng đến đứa bé sao này tội nó lắm thi cử hay làm gì cũng phải xét lý lịch hết . 

Em xin chân thành cảm ơn!

Giảm án đối với trường hợp gây tai nạn giao thông

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

Theo quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung:

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
 
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
A) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;
B) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;
C) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
D) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
Đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
 
3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
 
4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
 
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 của Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28 tháng 8 năm 2013 Hướng dẫn áp dụng quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự là một trong các trường hợp sau đây:
 
"a) Làm chết một người;
 
b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;
..."

Như vậy, anh bạn gây tai nạn làm chết một người , tức là gây hậu quả nghiêm trọng thì sẽ bị phạt từ từ ba năm đến mười năm.

Theo Điều 46 Bộ luật hình sự quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;
c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;  
đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;
e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;
k) Phạm tội do lạc hậu;
l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;
m) Người phạm tội là người già;
n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
o) Người phạm tội tự thú;
p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;
r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.
2. Khi quyết định hình phạt, Toà án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.
3. Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.”

Trong trường hợp của anh bạn, người bị tử vong có dùng rượu bia, anh trai bạn cũng đã cố gắng ngăn chặn để giảm bớt thiệt hại, cho nên đây là căn cứ để Tòa xem xét giảm nhẹ tội của anh trai bạn.

>> Tham khảo ngay:  Trách nhiệm của công an giao thông trọng vụ tai nạn giao thông đường bộ ?

7. Tư vấn về bên có lỗi khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Bên A điều khiển xe gắn máy (giấy tờ đầy đủ), trong người có nồng độ cồn vượt mức cho phép, gây tai nạn cho bên B đang điều khiển xe gắn máy nhưng không có giấy phép lái xe. Cả 2 điều nhập viện và gãy chân. Trong trường hợp trên bên A hay bên B có lỗi ? Tôi xin chân thành cảm ơn! Người gửi: N.V.D

Tư vấn về bên có lỗi khi xảy ra tai nạn giao thông ?

 Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời như sau:

Điều 8 Luật giao thông đường bộ 2008 quy định:

Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Phá hoại đường, cầu, hầm, bến phà đường bộ, đèn tín hiệu, cọc tiêu, biển báo hiệu, gương cầu, dải phân cách, hệ thống thoát nước và các công trình, thiết bị khác thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.

2. Đào, khoan, xẻ đường trái phép; đặt, để chướng ngại vật trái phép trên đường; đặt, rải vật nhọn, đổ chất gây trơn trên đường; để trái phép vật liệu, phế thải, thải rác ra đường; mở đường, đấu nối trái phép vào đường chính; lấn, chiếm hoặc sử dụng trái phép đất của đường bộ, hành lang an toàn đường bộ; tự ý tháo mở nắp cống, tháo dỡ, di chuyển trái phép hoặc làm sai lệch công trình đường bộ.

3. Sử dụng lòng đường, lề đường, hè phố trái phép.

4. Đưa xe cơ giới, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường tham gia giao thông đường bộ.

5. Thay đổi tổng thành, linh kiện, phụ kiện xe cơ giới để tạm thời đạt tiêu chuẩn kỹ thuật của xe khi đi kiểm định.

6. Đua xe, cổ vũ đua xe, tổ chức đua xe trái phép, lạng lách, đánh võng.

7. Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy.

8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.

Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.

9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.

Điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ không có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng.

10. Giao xe cơ giới, xe máy chuyên dùng cho người không đủ điều kiện để điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ.

11. Điều khiển xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định, giành đường, vượt ẩu.

12. Bấm còi, rú ga liên tục; bấm còi trong thời gian từ 22 giờ đến 5 giờ, bấm còi hơi, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị và khu đông dân cư, trừ các xe được quyền ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định của Luật này.

13. Lắp đặt, sử dụng còi, đèn không đúng thiết kế của nhà sản xuất đối với từng loại xe cơ giới; sử dụng thiết bị âm thanh gây mất trật tự an toàn giao thông, trật tự công cộng.

14. Vận chuyển hàng cấm lưu thông, vận chuyển trái phép hoặc không thực hiện đầy đủ các quy định về vận chuyển hàng nguy hiểm, động vật hoang dã.

15. Đe dọa, xúc phạm, tranh giành, lôi kéo hành khách; bắt ép hành khách sử dụng dịch vụ ngoài ý muốn; chuyển tải, xuống khách hoặc các hành vi khác nhằm trốn tránh phát hiện xe chở quá tải, quá số người quy định.

16. Kinh doanh vận tải bằng xe ô tô khi không đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh theo quy định.

17. Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm.

18. Khi có điều kiện mà cố ý không cứu giúp người bị tai nạn giao thông.

19. Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị nạn và người gây tai nạn.

20. Lợi dụng việc xảy ra tai nạn giao thông để hành hung, đe dọa, xúi giục, gây sức ép, làm mất trật tự, cản trở việc xử lý tai nạn giao thông.

21. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp của bản thân hoặc người khác để vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ.

22. Sản xuất, sử dụng trái phép hoặc mua, bán biển số xe cơ giới, xe máy chuyên dùng.

23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

Như vậy, khi tham gia giao thông bằng xe gắn máy, A đã điều khiển xe mà trogn máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định (vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở), do đó, A vi phạm Khoản 8 Điều 8 nêu  trên. Đồng thời, B điều khiển xe gắn máy không có giấy phép lái xe theo quy định nên B vi phạm Khoản 9 Điều 8 nêu trên.

Như vậy, A và B đều có lỗi trong vụ tai nạn này. A, B phải chịu xử phạt vi phạm hành chính. Cụ thể như sau:

Tùy vào nồng độ cồn trong máu mà  A phải chịu mức xử phạt theo Điểm b Khoản 5, Điểm e Khoản 6, Điểm b, c Khoản 10 Điều 6 Nghị định 171/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt:

Điều 6. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

...

5. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

e) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở.

10. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

b) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm b, Điểm c, Điểm i, Điểm m Khoản 4; Điểm b Khoản 5; Điểm đ Khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 01 tháng;

c) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm đ Khoản 5; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm e Khoản 6; Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng.

Tùy vào loại xe máy mà B điều khiển thì B sẽ phải chịu xử phạt hành chính theo Khoản 5, Điểm b Khoản 7 Điều 21 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ thì: Không có giấy phép lái xe bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000; không có giấy phép lái xe đối với xe mô tô có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.6162 .

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê