- Người xử lý tài sản bảo đảm có quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đến hạn (Khoản 1, Điều 63);

- Người xử lý tài sản bảo đảm là Bên nhận bảo đảm hoặc người được Bên nhận bảo đảm ủy quyền (Khoản 4, Điều 58);

- Trong thời gian xử lý tài sản bảo đảm, Bên nhận tài sản bảo đảm được quyền khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm hoặc cho phép bên bảo đảm hoặc cho người thứ ba khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm (Khoản 1, Điều 64).

Vậy, trong trường hợp tài sản bảo đảm được xử lý thông qua thi hành án và Bên nhận bảo đảm có văn bản ủy quyền cho Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ theo đơn yêu cầu thì Cơ quan thi hành án dân sự có quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm không ? Bên nhận bảo đảm có quyền khai thác, sử dụng tài sản trong thời gian chờ xử lý tài sản không ? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.B.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  - 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý:

- Nghị định 163/2006/NĐ-CP Về xử lý giao dịch đảm bảo

- Nghị định 11/2012/NĐ-CP Sửa đổi bổ dung một số điều của nghị định 163/2006/NĐ-CP

- Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN: hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm theo Nghị định số 163/2006/NĐ-CP.

Nội dung phân tích: 

Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm điều chỉnh mối quan hệ dân sự giữa các bên có liên quan trong việc xác lập, thực hiện giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm. Quy định này đã được nêu rõ tại: 

"Điều 1 Phạm vi điều chỉnh:

 Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự về việc xác lập, thực hiện giao dịch bảo đảm để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và xử lý tài sản bảo đảm”.

Trường hợp bên nhận bảo đảm tiến hành xử lý tài sản bảo đảm thông qua thủ tục thi hành án dân sự, đồng nghĩa với việc phải có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền và bên nhận bảo đảm phải có yêu cầu thi hành án gửi tới Cơ quan thi hành án dân sự. Trên cơ sở đó, Cơ quan thi hành án dân sự sẽ tiến hành các thủ tục, trình tự cần thiết để bảo đảm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đó được thi hành trên thực tế. Ngoài ra, với tư cách là cơ quan đại diện cho Nhà nước thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, Cơ quan thi hành án dân sự cũng thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khuôn khổ pháp luật quy định. Các thủ tục, trình tự thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan thi hành án dân sự được quy định bởi pháp luật hiện hành về thi hành án dân sự, cụ thể là Luật Thi hành án dân sự và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật.

Như vậy, trong trường hợp này, pháp luật áp dụng sẽ là pháp luật hiện hành về thi hành án dân sự, mà không áp dụng Nghị định số 163/2006/NĐ-CP.

- Để làm rõ hơn vấn đề này, ngày 06/6/2014, Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm theo Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP, trong đóThông tư liên tịch quy định: 

"Điều 1. Phạm vi điều chỉnh:

1. Thông tư này hướng dẫn việc thu giữ, bán tài sản bảo đảm, nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm và thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản sau khi xử lý tài sản bảo đảm.

2. Thông tư này không áp dụng đối với trường hợp xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động thi hành án dân sự.”

Như vậy, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP và các Thông tư hướng dẫn thi hành chỉ áp dụng với các bên dân sự trong khi xác lập, thực hiện giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm. Trường hợp tài sản bảo đảm được xử lý theo thủ tục thi hành án dân sự thì Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật trên cơ sở đơn yêu cầu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, mà không áp dụng các quy định tại khoản 1 Điều 63, khoản 4 Điều 58 và khoản 1 Điều 64 của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về dân sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự.