Vài tháng sau tôi có nghi vấn nên tôi yêu cầu A cung cấp địa chỉ của các cửa hàng nếu không thì tôi rút vốn   thì A viện lý do vòng vo và không đưa. Nên tôi ngừng hợp tác và yêu cầu A hoàn lại số tiền mà tôi đã  góp vốn. A đồng ý và nói đến cuối năm 2014 sẽ hoàn trả, nhưng cho đến nay vẫn chưa trả. Gần đây tôi hỏi lại thì A nói rằng mở cửa hàng  ở vị trí khác không phải vị trí X, Y như đã nói trước đó và bị thua lỗ. Do   tôi và A không ở gần nên chúng tôi chỉ liên lạc bằng SMS và facebook mỗi lần chuyển tiền và do là bạn thân nên không có hợp đồng xác nhận.  Quý luật sư cho tôi hỏi:  Trường hợp bạn A không dùng số tiền tôi góp  vốn để mở của hàng như mục  đích ban đầu thì A có phạm luật không và pháp luật sẽ xử lý như thế nào (nếu  có)? Trường hợp bạn A mở cửa hàng ở một chổ khác không như đã nói với tôi   trước đó thì A có phạm luật không và sẽ xử lý như thế nào (nếu có)? Nếu A phạm luật và tôi muốn kiện thì sẽ cần những băng chứng gì?  nếu không tôi chưa có bằng chứng thì có thể yêu cầu cơ quan chức năng làm rõ vấn đề được không? Và tin nhắn SMS và facebook có thể được xem là bằng chứng   hay không?

 Vấn đề 2:  Cùng người bạn A này vào tháng 12/2013 có nhờ tôi vay gần 60 triệu tín dụng   của 1 ngân hàng với lý do đi công tác bị thâm hụt tiền dự án của công ty nếu  không có tiền bù vào sẽ bị đuổi việc. Nên tôi đồng ý đứng tên vay giùm và   không làm bất ký giây tờ gì làm bằng chứng. Ban đầu A có hứa 4/2014 sẽ trả  nhưng đã không trả và chỉ trả số tiền mỗi tháng mà ngân hàng quy định (không   đều đặn).  Quý luật sư cho tôi hỏi:  Nếu lý do đưa ra để tôi vay tiên giùm không đúng sự thật thì A có phạm luật  không? nếu tôi chưa có bằng chứng thì có thể yêu câu cơ quan chức năng làm rõ vấn đề được không?

Trân trọng cảm ơn!

Người gửi: HK 

Hành vi lừa dối trong góp vốn kinh doanh?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900 61612

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 Sửa đổi bổ sung năm 2009.

Bộ luật dân sự 2005.

Nội dung phân tích:

Căn cứ vào Điều 139 BLHS: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm..."
Như vậy, nếu A không hoản trả lại khoản tiền mà bạn đã đưa và lấy lý do là việc kinh doanh thua lỗ thì trong trường hợp này A đã phạm vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 139 BLHS. Bởi lẽ, A đã không thực hiện đúng như cam kết, thỏa thuận của các bên (Cho dù A có mở cửa hàng tại địa điểm khác hay không mở cửa hàng thì đều được coi là hành vi lừa dối),  Kết hợp với việc A chiếm đoạt tài sản (viện lý do như trên để không trả tiền) thì hoàn toàn đủ căn cứ để chứng minh A đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. 
Còn vấn đề : tin nhắn facebook hay SMS có được xem là bằng chứng hay không thì còn phải xem xét những tin nhắn đó chứa đựng thông tin gì và phải xác minh chính xác những tin nhắn đấy là do A gửi. Đây có thể được xem là vật chứng trong Tố tụng hình sự, còn giá trị chứng minh đến đâu còn phải phụ thuộc vào nội dung tin nhắn. Tuy nhiên, khi xác định đây là một vụ án hình sự thì không chỉ có tin nhắn, cơ quan điều tra sẽ tiến hành lấy lời khai, thu thập chứng cứ khác để xác định sự thật vụ án.
Vấn đề thứ hai:
Căn cứ vào Điều 475 BLDS. Sử dụng tài sản vay

"Các bên có thể thoả thuận về việc tài sản vay phải được sử dụng đúng mục đích vay; bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản và có quyền đòi lại tài sản vay trước thời hạn, nếu đã nhắc nhở mà bên vay vẫn sử dụng tài sản trái mục đích"

Như vậy, nếu trong hợp đồng vay giữa hai bạn có thỏa thuận về mục đích sử dụng khoản vay thì nếu A có hành vi sử dụng khoản tiền này sai mục địch thì Bạn hoàn toàn có quyền đòi lại tài sản vay (60 triệu) .

Trường hợp khác, Nếu A chỉ đề cập đến mục đích của khoản vay với bạn và hai bên không thỏa thuận ràng buộc khoản vay chỉ được sử dụng vào mục đích trên thì việc A sử dụng với mục đích khác cũng không trái với pháp luật. Tuy nhiên, việc A chậm trả tài sản vay khi đến hạn lại là một hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm nghĩa vụ của bên vay:

"Điều 474 BLDS Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác..."

Theo đó, bạn hoàn toàn có thể nộp đơn khởi kiện ra tòa để buộc A phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ nếu A vẫn không trả khoản nợ quá hạn mà bạn yêu cầu.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.