Sau một thời gian tôi thấy không có hiệu quả nên đã quyết toán sổ sách không làm chung nữa và người bạn đã ghi giấy nhận nợ vợ chồng tôi và hẹn thời gian trả, nhưng chỉ trả được 1 ít và số tiền còn nợ là gần 180 triệu, tôi đã nhiều lần điện thoại đòi nhưng anh ta cứ hẹn mãi mà không thấy trả. Như vậy tôi có thể khởi kiện để đòi quyền lợi hay làm đơn tố cáo anh ta về tội gì hay không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.T.T.Hương

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn dân sự gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005

Bộ luật hình sự 1999

Luật số 65/2011/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Tố tụng dân sự

Bộ luật tố tụng hình sự 2003

Nội dung phân tích:

Sau khi quyết toán sổ sách thì trách nhiệm của vợ chồng bạn và người bạn đó không còn là đối tác góp vốn trong việc làm ăn nữa. Sau đó, người bạn đó lại ghi giấy nợ cho vợ chồng bạn, như vậy, giữa vợ chồng bạn và người bạn đó đã thỏa thuận với nhau về một hợp đồng vay tài sản. Theo Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005 thì:

"Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

 Ở đây việc giao tài sản cho bên vay được thể hiện dưới dạng là bên vay đã không phải hoàn trả khoản đáng lẽ ra phải trả cho bên cho vay. Vì hai bên đã tham gia vào hợp đồng vay tài sản nên phải tuân theo các nghĩa vụ do pháp luật quy định đối với hợp đồng vay tài sản. Việc người bạn của bạn không trả tiền đúng thời hạn hai bên đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, cũng như vi phạm pháp luật về nghĩa vụ của bên vay quy định tại Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005:

"Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Việc bạn của vợ chồng bạn không trả nợ là vi phạm nghĩa vụ pháp lý theo phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự. Để cấu thành trách nhiệm hình sự thì cần phải hội tụ yếu tố khác. Bạn của bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 nếu có yếu tố lừa dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt số tiền chưa trả hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản:

"Điều 140.  Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

Theo đó tùy theo tình tiết mà bạn có thể kiện bạn của bạn ra Tòa dân sự hoặc khởi tố vụ án hính sự.

Tòa án nhân dân có thẩm quyền là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cứ trú, làm việc, theo khoản 3 Điều 25, điểm a Khoản 1 Điều 33, điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi năm 2011 đối với vụ án là vụ án dân sự.

Nếu đó là vụ án hình sự thì bạn đến cơ quan có thẩm quyền để tố giác theo quy định tại Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 để khởi tố vụ án hình sự:

" Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản."

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất mong sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.