1. Tư vấn xử lý trường hợp xe container gây tai nạn giao thông ?

Thưa luật sư: Em muốn hỏi: chồng em chạy xe container có lấn sang tuyến đường bên cạnh gây tai nạn giao thông cho một xe máy chở ba, say rượu và không đội nón bảo hiểm. 

 Hậu quả là người chạy xe máy không sao nhưng người ngồi giữa thì bị bại liệt toàn thân và không nhận thức được. Vậy xin hỏi luật sư chồng em sẽ bị xử phạt như thế nào và mức bồi thường cho gia đình bị hại ra sao?

Trân trọng cảm ơn luật sư!


Câu hỏi ngày 13-07-2015
 

Trả lời:

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới bạn lời chào trân trọng và cảm ơn bạn đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Hình sự 1999

Bộ luật dân sự 2005 

Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Nghị định 107/2014/NĐ-CP sửa đổi 171/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính giao thông đường bộ đường sắt.

2. Nội dung phân tích:

2.1 Xử phạt người tham gia giao thông say rượu, chở ba, không đội mũ bảo hiểm

- Một người lái xe máy, lái xe trong tình trạng say rượu không làm chủ được tốc độ của mình, chở vượt quá số người quy định, không có nón bảo hiểm rất dễ dẫn đến tai nạn nên theo tôi trường hợp này cũng bị xử phạt theo quy định của pháp luật. 

Tại Điều 6, Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ đã quy định về việc xử lý người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy vi phạm quy định về nồng độ cồn như sau:

- Người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng và tước quyền sử dụng giấy phép lái xe 01 tháng (nếu hành vi vi phạm dẫn đến tai nạn giao thông thì sẽ bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe 02 tháng)

- Người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng và tước quyền sử dụng giấy phép lái xe 02 tháng

Bên cạnh đó, cũng theo Nghị định 171/2013/NĐ-CP, người điều khiển xe xe mô tô, xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ sẽ bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

Và cũng theo  Nghị định 171/2013/NĐ-CP, chở theo từ 03 (ba) người trở lên trên xe sẽ bị phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng.

Như vậy, với hành vi không đội mũ bảo hiểm và chở quá số người quy định, có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, người vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 3.600.000 đồng và bị tước giấy phép lái xe 1-2 tháng (tùy trường hợp cụ thể). Ngoài ra, người vi phạm cũng sẽ phải chi trả chi phí xét nghiệm nồng độ cồn trong máu theo giá dịch vụ khám, chữa bệnh (theo Thông tư liên tịch số 26/2014/TTLT - BCA của Bộ Y tế - Bộ Công an quy định về xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, có hiệu lực từ ngày 19/9/2014).

2.2 Xử phạt người tham gia giao thông đi sai làn đường

Theo đó, khi người điều khiển container đi vào làn đường dành cho xe gắn máy, xe thô sơ, tức là đã đi không đúng làn đường quy định và sẽ bị xử phạt theo quy định của Nghị định 171/2013/NĐ-CP (Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 1/1/2014).

Cụ thể tại Điểm c, Khoản 4, Điều 5 quy định phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển container và các loại xe tương tự xe ô tô khi thực hiện hành vi vi phạm: “Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định”. Ngoài ra, với vi phạm này, theo Điểm b, Khoản 11, Điều 5, người điều khiển xe còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trong 01 tháng.

Về trách nhiệm hình sự

Điều 202 của Bộ luật Hình sự quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như sau:

“Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ...

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28 tháng 8 năm 2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự là một trong các trường hợp sau đây:

“a) Làm chết một người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

...”.

Đồng thời, theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 09 thì tình tiết định khung “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định” (điểm b khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ đang trong tình trạng say do sử dụng các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng rượu, bia hoặc là trường hợp người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.

Với các thông tin mà bạn cung cấp thì người thanh niên đã gây tai nạn cho bác bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Tuy nhiên, việc xác định khung hình phạt sẽ tùy thuộc vào tình trạng của người thanh niên đó tại thời điểm gây tai nạn:

- Nếu thuộc một trong hai trường hợp quy định tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 09 (như đã nêu ở trên) thì người đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự, theo đó sẽ bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

- Nếu không thuộc một trong hai trường hợp quy định tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 09 thì người đó chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 202, theo đó sẽ bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

2.3 Mức bồi thường thiệt hại

Việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự năm 2005. Cụ thể hơn, tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì việc bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

-  Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

-  Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm: Tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường

Còn mức bồi thường cụ thể trong trường hợp của chồng bạn còn dựa trên tỉ lệ thương tật của nạn nhân.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.1940. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem ngay:  Gây tai nạn giao thông làm tổn hại đến sức khỏe của người khác thì bị xử lý thế nào ?

2. Trách nhiệm khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Thưa luật sư, Em xin chào luật sư, khi đi trên đường có gây ra tai nạn người bị té bị 20% thương tật thì em sẽ bị xử lý như thế nào ạ?

Trách nhiệm khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi:1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Việc điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho sức khỏe người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự và phải chịu trách nhiệm bồi thường cho hành vi phạm tội gây ra. Cụ thể, trong trường hợp 

Về trách nhiệm hình sự:

Hành vi gây tai nạn khi tham gia giao thông có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự như sau:

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy, dựa vào quy định trên bạn cần xác định rõ yếu tố liên quan có cấu thành tội phạm này không. Cụ thể:

Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này: 

Khách thể của tội phạm là sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác.

Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác. Để đấu tranh phòng chống vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ bằng pháp luật hình sự, Nhà nước quy định tội phạm và hình phạt đối với hành vi này. Theo đó, chỉ những hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có tính chất nguy hiểm cao, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác và hành vi có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời mới bị coi là phạm tội hình sự.

Phương tiện giao thông đường bộ gồm: phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ. Trong đó:

+ Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (gọi tắt xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.

+ Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ (gọi tắt là xe thô sơ) gồm xe đạp (kể cả xe đạp máy), xe xích lô, xe lăn dùng cho người khuyết tật, xe súc vật kéo và các loại xe tương tự.

Xe máy chuyên dùng gồm xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh có tham gia giao thông đường bộ, khi tham gia giao thông đường bộ cũng phải chấp hành các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Vì vậy, xe máy chuyên dùng cũng được coi như phương tiện giao thông đường bộ khi tham gia giao thông đường bộ.

Mặt khách quan của tội phạm vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ bao gồm các yếu tố: hành vi khách quan; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.

Hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là quy định của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (gọi tắt Luật GTĐB) về bảo đảm an toàn trong hoạt động của các phương tiện giao thông đường bộ như quy định về:

 Việc chấp hành báo hiệu đường bộ; tốc độ và khoảng cách giữa các phương tiện tham gia giao thông; sử dụng làn đường; vượt xe, chuyển hướng xe; lùi xe; tránh xe đi ngược chiều; dừng, đỗ xe trên đường (trong và ngoài đô thị); điều khiển phương tiện giao thông đường bộ qua cầu, phà, trong hầm đường bộ và tại các nơi đường giao cắt; tải trọng và khổ giới hạn của đường bộ; xe kéo xe và xe kéo rơ moóc;

Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy; người điều khiển và người ngồi trên xe đạp, người điều khiển xe thô sơ khác; người đi bộ; người điều khiển, dẫn dắt sức vật đi trên đường bộ;

Tổ chức các hoat động khác trên đường bộ như tổ chức hoạt động văn hoá, thể thao, diễu hành, lễ hội ...

Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là người trực tiếp điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ và xe máy chuyên dùng. Để truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện hành vi vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 202 BLHS cần xác định những quy định cụ thể nào về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong Luật GTĐB bị vi phạm.

Thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 202 BLHS, thì hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chỉ bị coi là phạm tội khi gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác. Quy định tại Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao (gọi tắt Thông tư liên tịch 09/2013/TTLT) hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIX của BLHS về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông, thì:

+ Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 202 BLHS là thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết một người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản với giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới bảy mươi triệu đồng;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ bảy mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

+ Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại rất nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 202 BLHS là thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết hai người;

b) Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này là từ trên 100% đến 200%;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của một hoặc hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e khoản 1 Điều này;

e) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng.

+ Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 3 Điều 202 BLHS là thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Làm chết từ ba người trở lên;

b) Làm chết hai người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này;

c) Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e khoản 2 Điều này;

d) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ năm người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của từ hai người trở lên với tổng tỷ lệ thương tật của những người này trên 200%;

e) Gây tổn hại cho sức khỏe của ba hoặc bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng;

g) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ năm trăm triệu đồng trở lên.

Giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra phải tồn tại mối quan hệ nhân quả, nghĩa là, về mặt thời gian thì hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ phải xảy ra trước hậu quả nêu trên. Hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Hậu quả nghiêm trọng là sự hiện thực hoá khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

Tội phạm hoàn thành từ thời điểm xảy ra thiệt hại về tính mạng, thiệt hại nghiêm cho về sức khoẻ, tài sản của người khác.

Về mặt chủ quan của tội phạm, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được thực hiện do lỗi vô ý do tự tin hoặc do cẩu thả.

+ Vô ý do tự tin, trong trường hợp người vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

+ Vô ý do cẩu thả, trường hợp người vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

 - Chủ thể của tội phạm, tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 202 BLHS là tội phạm nghiêm trọng; quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 202 BLHS là tội phạm rất nghiêm trọng; quy định tại khoản 4 Điều 202 BLHS là tội phạm ít nghiêm trọng. Theo quy định tại Điều 12 BLHS, thì ng­ười từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi trở lên, như­ng ch­ưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Như vậy, nếu bạn vi phạm quy định về việc điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho nạn nhân với tỷ lệ thương tật 20% thì không phải chịu trách nhiệm hình sự

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn phụ thuộc vào lỗi của bạn và người bị thương. Cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường và việc xác định mức bồi thường được hướng dẫn cụ thể trong nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP như sau:

" Theo quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây gọi tắt là BLDS), về nguyên tắc chung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây:
- Phải có thiệt hại xảy ra.

- Phải có hành vi trái pháp luật.

- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại.

 Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại."

Mức bồi thường sẽ phụ thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên. Nếu không thỏa thuận được thì mức bồi thường được xác định dựa trên quy định sau:

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm
Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:
1.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

1.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

1.3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

1.5. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

- Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường."

Tham khảo bài viết liên quan:  Tư vấn xảy ra tai nạn giao thông khi vượt xe sai quy định ?

 

3. Mức bồi thường khi xảy ra tai nạn giao thông nhưng chưa có va chạm ?

Thưa Luật sư, em xin Luật sư tư vấn về tai nạn giao thông với nội dung như sau: Bố em chạy trên đường huyện với bề rộng khoảng 5 mét và đi đúng phần đường của mình. Các đối tượng say xỉn lưu thông ngược chiều với chiều bố em đang lưu thông và tự va quệt với nhau và ngã qua phần đường của bố em đang lưu thông. 

Do tình huống xảy ra đột ngột nên bố em tránh về phía lề phanh gấp và ngã tử vong. 2 xe chưa xảy ra va chạm trực tiếp. Như vậy lỗi thuộc về bên nào và mức bồi thường thiệt hại là như thế nào ? Mức bồi thường của bảo hiểm trách nhiệm dân sư bắt buộc ra sao trong trường hợp này ? Em xin chân thành cảm ơn !

Người hỏi: N.T.N

Mức bồi thường khi xảy ra tai nạn giao thông nhưng chưa có va chạm ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Công ty chúng tôi.  Vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Trường hợp của bạn thì lỗi ở đây thuộc về những người đã sử dụng rượu bia tham gia giao thông, những người này đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về tham gia giao thông theo quy định tại Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, cụ thể:

"Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

...

7. Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy.

8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.

Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.

9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.

Điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ không có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng..."

Bố bạn không có lỗi trong trường hợp này do bố bạn không vi phạm quy định về tham gia giao thông.

 2. Đối với vấn đề bồi thường thiệt hại trong trường hợp này do các xe chưa có sự va chạm trên thực tế nên việc bồi thường vẫn thuộc về phía những người sử dụng rượu bia đó, tuy nhiên theo quy định tại Điều 617 Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại có quy định: “ Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường”

Như vậy việc bố bạn bị ngã và dẫn đến tử vong là do lỗi của những người đi ngược chiều đó, mặc dù giữa các xe trên thực tế chưa hề có sự va chạm tuy nhiên họ vẫn phải thực hiện việc bồi thường theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội như sau:

"Điều 623. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại."

Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

Như vậy những người sử dụng rượu bia tham gia giao thông mặc dù chưa có sự va chạm với phương tiện của bố bạn trên thực tế nhưng vì lí do tránh sự va chạm đó mà dẫn đến hậu quả bố bạn chết thì họ vẫn phải thực hiện việc bồi thường đối với hành vi của mình.
3. Đối với vấn đề về mức bồi thường về bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc, nếu bố bạn đã tham gia bảo hiểm dân sự bắt buộc thì  được quy định cụ thể tại Điều 13
Nghị định 103/2008/NĐ-CP Về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới sau đây:

Doanh nghiệp bảo hiểm không bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp sau:

1. Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe, hoặc của người bị thiệt hại.

2. Lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe, lái xe cơ giới.

3. Lái xe không có Giấy phép lái xe hoặc Giấy phép lái xe không phù hợp đối với loại xe cơ giới bắt buộc phải có Giấy phép lái xe.

4. Thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp như: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại.

5. Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn.

6. Chiến tranh, khủng bố, động đất.

7. Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng, bạc, đá quý, tiền, các loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt.

 Do đó trong vòng 5 ngày kể từ ngày xảy ra tai nạn thì bạn phải gửi thông báo bằng văn bản đến doanh nghiệp bảo hiểm kèm theo các tài liệu sau để yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm của xe cơ giới:

.-Tài liệu liên quan đến xe, lái xe;

- Các giấy tờ chứng minh thiệt hại về người và tài sản;

- Tài liệu liên quan của cơ quan có thẩm quyền về vụ tai nạn.

Mức trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm được quy định tại Điều 4 Thông tư số 126/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính : Quy định Quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, mức trách nhiệm bảo hiểm là số tiền tối đa doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải trả đối với thiệt hại về thân thể, tính mạng và tài sản của bên thứ ba và hành khách do xe cơ giới gây ra trong mỗi vụ tai nạn xảy ra thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm. Cụ thể như sau:

4.1. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về người do xe cơ giới gây ra là 50.000.000 đồng/1 người/1 vụ tai nạn.

4.2. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự (kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật) gây ra là 30.000.000 đồng/1 vụ tai nạn.

4.3. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe ô tô, máy kéo, xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng (kể cả rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc được kéo bởi xe ô tô hoặc máy kéo) gây ra là 50.000.000 đồng/1 vụ tai nạn.

a.   Đối với thiệt hại về người:

- Mức bồi thường được xác định căn cứ vào quyết định của tòa án.

- Trong trường hợp không có quyết định của tòa án, mức bồi thường được xác định dựa trên Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người quy định tại Phụ lục số 6 ban hành kèm theo Thông tư 126/2008/TT-BTC ngày 22/12/2008 của Bộ Tài chính.

- Trường hợp chủ xe cơ giới đồng thời tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính theo hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực bảo hiểm trước.

b.   Đối với thiệt hại về tài sản:

- Mức bồi thường được xác định theo thiệt hại thực tế và theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới.

- Trường hợp chủ xe cơ giới đồng thời tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính theo hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực bảo hiểm trước.

-  Chi phí cần thiết và hợp lý nhằm ngăn ngừa, hạn chế tổn thất liên quan tới vụ tai nạn mà chủ xe cơ giới đã chi ra.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Công ty chúng tôi, hy vọng chúng tôi đã giải đáp được vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn tin tưởng sử dụng dịch vụ của Công ty chúng tôi.

>> Xem ngay:  Trách nhiệm của công an giao thông trọng vụ tai nạn giao thông đường bộ ?

4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông?

Kính chào Luật sư. Hiện tại tôi đang có một vấn đề như sau mong luật sư tư vấn giúp.Vào cuối tháng 10/2015 xe bồn của chị gái tôi đứng tên do tài xế N.V.D điều khiển đã gây tại nạn làm chết người. Lỗi được phía công an xác định là lỗi hỗn hợp: xe bồn bị mất thắng, người bị nạn đi vào làn đường của xe ô tô. Chị tôi đã đến gia đình người bị nạn dự đám tang và góp 50 triệu tiền tang lễ Sau đó hai bên thương lượng, ký biên bản đền bù thiệt hại là 165 triệu đồng. Tuy nhiên hiện gia đình chị tôi vẫn chưa có khả năng bồi thường số tiền trên. Về phía nạn nhân là lao động chính trong nhà (nữ) làm trưởng trạm y tế phường, có 1 con bị bại não 1 tuổi. Xin hỏi luật sư với những vấn đề nêu trên thì chị tôi phải chịu trách nhiệm gì? Tài xế phải chịu trách nhiệm gì? và mức bồi thường là bao nhiêu? Một vấn đề nữa là tại thời điểm xảy ra tai nạn, chị tôi đã cho công ty X thuê lại xe nhưng chưa ký hợp đồng, chỉ có hóa đơn thanh toán tiền lương tài xế do công ty X chi trả. vậy trách nhiệm bồi thường vẫn thuộc về chủ xe là chị tôi hay Công ty X, vì từ khi xảy ra tai nạn tới giờ công ty không hề hỏi thăm 1 lần nào và cũng không hề hỗ trợ gì cho chị tôi tiền ma chay cho nạn nhân hay tiền thuê luật sư.
Tôi xin chân thành cảm ơn Luật sư!

Trả lời:

Chào bạn cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Việc xe bồn gây tai nạn làm chết người thì việc bồi thường thiệt hại sẽ theo quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định trong Bộ luật dân sự 2005. Bạn có đề cập, xe gây ra tai nạn chết người là xe bồn đây được coi là nguồn nguy hiểm cao độ căn cứ theo quy định tại khoản 1, điều 623 Bộ luật dân sự 2005 và khoản 18, điều 3 của Luật giao thông đường bộ 2008

Điều 623. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

18. Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.

Theo những quy định này thì xe bồn là một trong những nguồn nguy hiểm cao độ và khi gây ra thiệt hại thì sẽ phải tuân theo quy định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được quy định tại Bộ luật dân sự 2005. Bạn có trình bày, tại thời điểm gây ra tai nạn chị bạn đã cho công ty X, căn cứ vào quy định tại khoản 2, điều 623 của Bộ luật dân sự 2005

Điều 623. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Từ quy định này thấy được rằng, về nguyên tắc chị bạn đã cho thuê công ty X thuê xe thì công ty X có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị chết, trừ trường hợp khi chị bạn cho thuê xe, hai bên có thỏa thuận trong trường hợp xe gây tai nạn thì chị bạn vẫn phải có 1 phần trách nhiệm. Còn việc giữa chị bạn và công ty X chưa ký hợp đồng, nhưng việc công ty X  thanh toán tiền lương tài xế cũng một phần chứng minh được rằng công ty X đang chiếm hữu, sử dụng chiếc xe bồn này. Bạn có trình bày "phía công an xác định là lỗi hỗn hợp: xe bồn bị mất thắng, người bị nạn đi vào làn đường của xe ô tô", như vậy trong vụ việc này cũng có một phần lỗi của người người bị thiệt hại theo quy định tại điều 617 Bộ luật dân sự 2005

Điều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường.

Như vậy, công ty X sẽ chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi do tài xế D gây ra, trong trường hợp có thỏa thuận chị bạn cũng phải chịu trách 1 phần trách nhiệm khi cho công ty X thuê xe thì chị bạn cũng chỉ phải chịu trách nhiệm theo thỏa thuận đó. Trong đó, mức bồi thường thiệt hại sẽ bao gồm những chi phí được quy định tại điều 610 của Bộ luật dân sự 2005

Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Mức bồi thường xác định cụ thể tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP:

2. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

2.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.4 và thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này.

2.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...

2.3. Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.

a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng, tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.

b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng.

- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

2.4. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm.

a) Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại.

b) Trường hợp không có những người được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 này, thì người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại.

c) Trong mọi trường hợp, khi tính mạng bị xâm phạm, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại (sau đây gọi chung là người thân thích) của người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của những người thân thích của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại...

d) Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.

>> Xem ngay:  Quy trình xử lý khi xảy ra tai nạn Giao thông đường bộ ?

5. Tư vấn mức bồi thường khi gây tai nạn giao thông ?

Chào luật sư công ty Luật Minh Khuê. Thưa luật sư,em có một vấn đề mong được luật sư tư vấn giúp em. 

 Chào luật sư. Cho em hỏi mới đây em đi giao hàng kem, nên có chở theo sau một chiếc thùng rộng 1,10m khi đi trên làn đường thì có người sang đường thi em quyệt vào người ta ngã xuống đường gãy xương đòn ở vai phải mổ bắt vít. Em cũng đã cùng người nhà đưa đi viện,hôm nay bà mới ra viện thì hết 23 triệu. Em cũng đến nhà người ta nói chuyện thì ý họ bắt em đền đủ thì mới xong mà e không đủ tiền. Người ta đang giữ xe và  chứng minh thư nhân dân giấy phép lái xe của em. Luật sư cho em hỏi giờ em không có tiền bồi thường thì gia đình họ có gây khó dễ gì không?

Em xin chân thành cảm ơn !

Người hỏi : N.Q

Tư vấn mức bồi thường khi gây tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi:1900.1940

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Trong trường hợp trên anh có nêu là anh đang tham gia giao thông thì va quyệt với một người khác làm người kia bị thương. Chúng tôi xác định trong trường hợp này, nếu như bạn có lỗi trong việc gây ra tai nạn trên thì bạn có nghĩa vụ phải bồi thường cho bên bị thiệt hại nếu như bên bị thiệt hại trong tai nạn trên hoàn toàn không có lỗi trong việc dẫn đến tai nạn này. Như vậy vấn đề phát sinh trách nhiệm bồi thường của bạn ở đây là do hành vi vi phạm các quy định của luật giao thông đường bộ. Trong trường hợp này người kia bị thiệt hại về sức khỏe, cụ thể là bị gãy xương đòn ở vai. Theo quy định của điều 609 Bộ luật dân sự 2005 có quy định về các mức bồi thường bồi thường thiệt hại khi sức khỏe bị xâm phạm. 

"1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định".

Theo quy định của điều 609 bộ luật dân sự 2005 là các khoản bồi thường mà bạn có nghĩa vụ bồi thường cho người bị thiệt hại. Mức thỏa thuận cụ thể sẽ do các bên thỏa thuận, nếu không thể thỏa thuận được thi bên bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc này và đây chỉ là các tranh chấp về dân sự bình thường. 

Tuy nhiên, anh có nêu một chi tiết là hiện nay anh không đủ tiền để bồi thường vậy nếu anh không đủ tiền bồi thường thì anh có phải chịu trách nhiệm pháp lý nào không. 

Theo quy định tại khoản 1 điều 606 bộ luật dân sự 2005 có quy đinhj về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân.

"Điều 606. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường".

Căn cứ vào quy định này thì nếu như bạn đã đủ 18 tuổi và gây ra thiệt hại thì bạn sẽ phải tự chịu trách nhiệm với hành vi của mình tức là tự phải bồi thường bằng tài sản của mình. Nếu như anh không có tài sản riêng để tự bồi thường thì pháp luật cũng không có quy định là bố mẹ anh phải đứng ra bồi thường thay cũng như xử lý bằng hình thức khác. Trường hợp này áp dụng khi anh đã đủ 18 tuổi. 

Như vậy, nếu anh không có đủ tiền bồi thường thì họ có thể khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu anh bồi thường. Tuy nhiên nếu anh không có tài sản riêng thì Tòa án cũng sẽ không có cách nào để tiến hành thi hành án được. Còn nếu như anh có tài sản riêng như xe máy, laptop thì có thể tòa án có thể sẽ tiến hành kê biên để đảm bảo cho việc thi hành án. Còn theo quy định của pháp luật thì bố mẹ anh không có nghĩa vụ phải bồi thường thay cho anh. 

>> Xem ngay:  Luật sư tư vấn bồi thường khi gây tai nạn giao thông ?

6. Gây tai nạn giao thông xử phạt như thế nào?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Hôm ngày 18/6/2015 sau khi đi đá bóng cùng bạn về thì có gặp chiếc xe máy đi ngược chiều, tại ngã ba hai bên xe đạp và xe máy đã va chạm và cả hai bên đều bị thương đưa đi cấp cứu. 

Do em trai tôi lúc đó bị ngất cho nên không nhớ được gì và tôi lên hỏi cảnh sát giao thông ở quận - người trực tiếp đến khám nhiệm hiện trường thì sơ đồ xảy ra tai nạn của anh cảnh sát lại vẽ chiếc xe đạp tung chiếc xe máy văng ra và bảo lỗi do em trai của tôi sai. Và anh cảnh sát nói hai bên tự giải quyết với nhau nếu không được, sẽ gửi hồ sơ về nhà trường đuổi học em trai của tôi. Sau khi chúng tôi đi gặp người mà đi xe máy đã va vào em trai tôi thì họ đòi chúng tôi bồi thường cho họ một triệu rưỡi. Nhưng tôi không đưa tiền cho họ. Vậy cho tôi xin hỏi:
1. Sơ đồ mà anh công đã vẽ đó có thể là có chút mờ án trong đó hay không? Vì theo thực tế chiếc xe đạp không thể đâm được chiếc xe máy ngã ra xa được.
2. Em trai tôi đi xe đạp có phải bồi thường cho người ta đi xe máy hay không?
Trong trường hợp này tôi nên giải quyết như thế nào cho tốt? Tôi xin chân thảnh cảm ơn luật sư!

Người gửi: N.T

Gây tai nạn giao thông xử phạt như thế nào?

Luật sư tư vấn luật dân sự, giao thông trực tuyến, gọi số:1900.1940

 

Trả lời:

Thưa quý khách hàng, Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Câu hỏi thứ nhất: Sơ đồ mà anh công an đã vẽ đó có thể là có chút mờ ám trong đó hay không?

Căn cứ theo Điều 5 Quyết định 18/2007/QĐ - BCA (C11) ban hành quy trình điều tra giải quyết tai nạn giao thông đường bộvề quy trình khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông:

"Điều 5. Khám nghiệm hiện trường

1. Những việc làm trước khi khám nghiệm hiện trường:

a) Tiếp nhận các công việc và nghe báo cáo tình hình vụ tai nạn giao thông của lực lượng bảo vệ hiện trường;

b) Mời những người chứng kiến tham gia khám nghiệm;

c) Quan sát toàn bộ địa điểm xảy ra tai nạn để xác định phạm vi hiện trường, vị trí dấu vết, nạn nhân, phương tiện, nhận định hiện trường còn nguyên vẹn hay đã bị xáo trộn…;

d) Xác định phạm vi khám nghiệm, phương pháp khám nghiệm, xác định điểm chuẩn để định vị trí phương tiện, dấu vết… khi tiến hành khám nghiệm và vẽ sơ đồ;

đ) Kiểm tra lại các thiết bị, phương tiện, công cụ phục vụ cho công tác khám nghiệm hiện trường.

2. Tiến hành khám nghiệm:

a) Phát hiện, xác định vị trí các dấu vết, vật chứng, nạn nhân, phương tiện để lại trên hiện trường;

b) Đánh dấu vị trí các dấu vết, vật chứng, nạn nhân, phương tiện, sơ bộ ghi nhận các dấu vết liên quan đến tai nạn trên phương tiện;

c) Chụp ảnh(và quay camera nếu có) hiện trường chung, hiện trường từng phần; chụp ảnh dấu vết, vật chứng có liên quan;

Chú ý khi chụp ảnh dấu vết, vật chứng nhất thiết phải đặt thước tỷ lệ;

d) Đo đạc và vẽ sơ đồ hiện trường;

đ) Thu lượm dấu vết, vật chứng, bảo quản và lấy mẫu so sánh (nếu thấy cần thiết) theo đúng quy định của pháp luật.

3. Lập biên bản khám nghiệm hiện trường theo quy định của Luật tố tụng hình sự."

Có thể thấy, công đoạn khám nghiệm hiện trường là một công đoạn quan trọng và cần nhiều bước để có thể hoàn thành nghiệp vụ này. Do đó, sơ đồ anh công an vẽ sau khi khám nghiệm hiện trường khó có thể có sai phạm vì đã có sự tham gia của những người chứng kiến vụ tai nạn.

Nhưng nếu bạn vẫn nghi ngờ về điều này, bạn có thể khiếu nại, tố cáo, khởi kiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về kết quả khám nghiệm hiện trường khi thấy có căn cứ cho là không đúng sự thật theo các quy định của pháp luật.

Câu hỏi thứ hai: Em trai tôi đi xe đạp có phải bồi thường cho người ta đi xe máy hay không?

Căn cứ vào Điều 8 Nghị định 171/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt:

"Điều 8. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, người điều khiển xe thô sơ khác vi phạm quy tắc giao thông

1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 60.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Không đi bên phải theo chiều đi của mình, đi không đúng phần đường quy định;
b) Dừng xe đột ngột; chuyển hướng không báo hiệu trước;
c) Không chấp hành hiệu lệnh hoặc chỉ dẫn của đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b, Điểm h Khoản 2; Điểm e Khoản 4 Điều này;
d) Vượt bên phải trong các trường hợp không được phép;
đ) Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường;
e) Chạy trong hầm đường bộ không có đèn hoặc vật phát sáng báo hiệu; dừng xe, đỗ xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định; quay đầu xe trong hầm đường bộ;
g) Xe đạp, xe đạp máy đi dàn hàng ngang từ ba xe trở lên, xe thô sơ khác đi dàn hàng ngang từ hai xe trở lên;
h) Người điều khiển xe đạp, xe đạp máy sử dụng ô, điện thoại di động; người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy sử dụng ô;
i) Xe thô sơ đi ban đêm không có báo hiệu bằng đèn hoặc vật phản quang.
2. Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Để xe ở lòng đường đô thị, hè phố trái quy định của pháp luật; đỗ xe ở lòng đường đô thị gây cản trở giao thông, đỗ xe trên đường xe điện, đỗ xe trên cầu gây cản trở giao thông;
b) Không tuân thủ các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt, trừ hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều 48 Nghị định này;
c) Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn hoặc gây cản trở đối với xe cơ giới xin vượt, gây cản trở xe ưu tiên;
d) Dùng xe đẩy làm quầy hàng lưu động trên đường, gây cản trở giao thông;
đ) Không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau;
e) Xe đạp, xe đạp máy, xe xích lô chở quá số người quy định, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu;
g) Xếp hàng hóa vượt quá giới hạn quy định, không bảo đảm an toàn, gây trở ngại giao thông, che khuất tầm nhìn của người điều khiển;
h) Khi tín hiệu đèn giao thông đã chuyển sang màu đỏ nhưng không dừng lại trước vạch dừng mà vẫn tiếp tục đi, trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng trước khi tín hiệu đèn giao thông chuyển sang màu vàng.
3. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Điều khiển xe đạp, xe đạp máy buông cả hai tay; chuyển hướng đột ngột trước đầu xe cơ giới đang chạy; dùng chân điều khiển xe đạp, xe đạp máy;
b) Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông;
c) Người điều khiển hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, mang vác vật cồng kềnh; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác.
4. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Điều khiển xe lạng lách, đánh võng; đuổi nhau trên đường;
b) Đi xe bằng một bánh đối với xe đạp, xe đạp máy; đi xe bằng hai bánh đối với xe xích lô;
c) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn;
d) Người điều khiển, người ngồi trên xe đạp máy không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ;
đ) Chở người ngồi trên xe đạp máy không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” hoặc đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” không cài quai đúng quy cách, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;
e) Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều đường của đường một chiều, đường có biển “Cấm đi ngược chiều”; đi vào đường cao tốc, trừ phương tiện phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc.
5. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần hành vi quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 4 Điều này còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu phương tiện."

Như vậy, dù em bạn là người điều khiển xe đạp nhưng vẫn phải chịu xử lý vi phạm hành chính và có thể phải bồi thường cho xe máy. Tùy vào bằng chứng chứng minh hành vi vi phạm, em trai bạn sẽ phải bồi thường cho người đi xe máy theo các mức phạt khác nhau.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về doanh nghiệp và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi vào giờ hành chính ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.1940.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh KHuê