1. Tư vấn xử lý việc vô tình gây tai nạn giao thông chết người?

Kính gửi các luật sư, Xin giải đáp giúp tôi về trách nhiệm hình sự và dân sự của bố tôi trong trường hợp lái xe để xảy ra tai nạn 1 người mất và 1 người bị thương. Cụ thể vụ tai nạn như sau: 

- Bố tôi năm nay 50 tuổi, lái xe tải( là chiếc xe gom góp mua lại của một người thân) vất vả nuôi 3 anh em tôi ăn học Đại học. Bố tôi có bằng lái và xe đầy đủ giấy phép lưu hành cũng như bảo hiểm đầy đủ theo quy định của Pháp luật. Vào 8h sáng ngày 2/7/2013, bố tôi đang trên đường đi lấy hàng, đi trên quốc lộ 1A theo hướng Bắc Nam thì bất ngờ 1 chiếc xe máy chạy ngang qua ngang đường quốc lộ do 1 ông khoảng 53 tuổi điều khiển, do ông ấy qua đường không quan sát và bị che khuất tầm nhìn do chiếc xe khách 2 tầng đi ngược chiều. Lúc nhìn thấy ông bà ấy, do khoảng cách quá gần và quá đột ngột nên bố tôi chỉ biết phanh xe hết cỡ nhưng vẫn va chạm vào xe máy. Ngay sau khi va chạm, bố tôi xuống có ý định xem người bị tai nạn thế nào nhưng xét thấy tình thế không qua khỏi nên đã hô hoán dân làng gọi xe cấp cứu rồi tránh mặt. Hai người được đưa vào BV huyện gần đó sơ cứu, sau đó được chuyển ra BV Đa Khoa tỉnh. Khoảng 12h do chấn thương nặng vùng bụng mà bà vợ qua đời, còn ông chồng bị gãy xương đòn và 3 cái xương sườn vẫn được điều trị tại bv. Gia đình tôi chạy vạy được 10 triệu đồng để bỏ phong bì phúng viếng gia đình bên bị thiệt hại. Luôn túc trực hằng ngày ở đám ma và bệnh viện. Hết lòng chăm sóc ông nằm ngoài viện, chúng tôi làm việc, học tập ngoài HN đều về chăm sóc ông ấy, đi lại hằng ngày để hỗ trợ tiền thuốc thang và chi phí chữa trị. Đến nay bệnh tình ông đã ổn định và chờ ngày xuất viện. Cho tôi hỏi 2 trường hợp:

1- Nếu không may gia đình kia đưa đơn kiện thì bố tôi phải chịu những hình phạt gì ( lỗi hoàn toàn là khách quan- bố tôi chạy xe đúng làn đường, tốc độ là 50-60km/h trên đoạn đường không quy định hạn chế tốc độ, không uống rượu bia hoặc chất kích thích). Và thủ tục bao nhiêu ngày mới có thể lấy xe ra?
2- Nếu 2 bên thỏa thuận êm đẹp thì bố tôi có bị đưa ra pl xử lý không?vì hồ sơ vụ tai nạn hiện bên công an đã làm việc và chuyển sang viện kiểm sát.
Rất mong nhận được sự giúp đỡ của các luật sư giúp gia đình tôi, bố tôi tuổi đã cao đến lúc sắp được nghỉ ngơi thì bị cú sốc này nên ảnh hưởng rất nhiều tới sk cũng như tinh thần.!
Xin cảm ơn rất nhiều!
Người gửi: Lê Nga

Tư vấn xử lý việc vô tình gây tai nạn giao thông chết người?

Chào bạn!, Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty, câu hỏi của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Vì bạn không nói rõ cảnh sát giao thông có khám nghiệm hiện trường hay không? Nếu có thì kết quả khám nghiệm hiện trường như thế nào? Theo kết luận điều tra thì bố bạn có vi phạm luật giao thông hay không? Tuy nhiên, với tình huống của bạn tôi có thể trao đổi với bạn như sau:

Theo quy định tại điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về điều khiển phương tiện giao thông

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;
c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm​.

​Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

Điều 623. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

​Theo quy định của điều luật trên, trường hợp của bạn như sau:

-Nếu như bố bạn vi phạm giao thông quy định về an toàn giao thông đường bộ, thì bố bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1, điều 202 ở trên và phải bồi thường cho gia đình người bị nạn theo điều 623 Bộ luật dân sự 2005.

- Nếu như bố bạn đi đúng quy định về an toàn giao thông đường bộ, thì bố bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vẫn phải bồi thường cho gia đình người bị nạn theo quy định trên.

Nếu hai bên không thoả thuận được về vấn đề bồi thường thiệt hại và bên gia đình bị thiệt hại có yêu cầu toà án giải quyết, thì mức độ và các khoản bồi thường thiệt hại sẽ được thực hiện theo Bộ luật dân sự 2005. Trân trọng!

 

2. Tư vấn về bồi thường cho nạn nhân tai nạn giao thông chết người ?

Kính gửi Luật sư. Bố tôi là lái xe khách. Vừa rồi khi lưu thông trên đường có xảy ra tai nạn giao thông. Một thanh niên lái xe máy ngược chiều không đội mũ bảo hiểm và không có bằng lái lấn sang làn đường bên trái và đâm vào đầu xe của bố tôi.

Bố tôi đang đi với tốc độ thấp hơn mức cho phép trên đoạn đường này. Tai nạn xảy ra ở ngã ba. Sau khi xảy ra tai nạn bố tôi đã đưa nạn nhân vào bệnh viện. Sau vài ngày thì anh này chết vì chấn thương sọ não. Phía công an nói đây là lỗi hỗn hợp vì đoạn xảy ra tai nạn là ngã ba và bố tôi không giảm tốc độ. Tôi xin hỏi với trường hợp này thì sẽ giải quyết thiệt hại về người và vật chất như thế nào. Chi phí điều trị cho nạn nhân rất lớn. Gia đình tôi đang rất lo lắng về vấn đề bồi thường nếu gia đình người chết đòi hỏi. Rất mong quý luật sư tư vấn cho gia đình tôi. Trân trọng cảm ơn.

>>  Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại, gọi:  1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào các thông tin bạn cung cấp xin tư vấn như sau:

Căn cứ theo Điều 604 và 623 Bộ luật dân sự năm 2005

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại  

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

"Điều 623. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

Theo đó trường hợp của bố bạn được xác định là gây thiệt hại về tính mạng cho người khác do sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ là xe oto đang lưu thông trên đường mà không thuộc một trong hai trường hợp không phải bồi thường tại điểm a,b khoản 3 Điều 623 LDS ( theo thông tin bạn cung cấp bên công an đã xác định đây là lỗi hỗn hợp ) nên sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị xâm phạm đến tính mạng kể cả trong trường hợp có lỗi hoặc không có lỗi. Mức bồi thường được quy định tại Điều 610 LDS như sau : 

"Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm  

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định. "

Như vậy các mức bồi thường mà gia đình bạn phải gánh chịu đó là :

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc nạn nhân trước khi chết.

- Chi phí hợp lý cho việc mai táng.

- Tiền cấp dưỡng cho những người nạn nhân có nghĩa vụ cấp dưỡng

- Tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho người nhà nạn nhân.

Ngoài ra các khoản chi phí nói trên được quy định cụ thể như sau tại điểm 2 phần II nNghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

II. Xác định thiệt hại

2. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

 2.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.4 và thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này.

 2.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hoả táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...

2.3. Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.

 a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.

 b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng.

- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

 2.4. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm.

a) Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại.

b) Trường hợp không có những người được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 này, thì người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại.

c) Trong mọi trường hợp, khi tính mạng bị xâm phạm, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại (sau đây gọi chung là người thân thích) của người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của những người thân thích của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại…

d) Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường”.

 

3. Gây tai nạn giao thông chết người và trách nhiệm phải chịu ?

Chào luật Minh Khuê, em có câu hỏi như sau : Bạn em gây tai nạn giao thông làm chết một người, một người bị thương. Bên bạn em cũng có hai người bị thương nặng. Khi tham gia giao thông bạn em có nồng độ cồn trong máu,không đội mũ bảo hiểm,xe chở ba ,không có giấy phép lái xe. Nhưng đi đúng đường, còn bên kia đi sai đường. Vậy luật sư cho em hỏi,trong trường hợp này bạn em sẽ bị xử lý như thế nào cả về hình sự và dân sự ạ?

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009  quy định:

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Nội dung trên được hướng dẫn bởi Khoản 4.1 Điều 4 Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP  Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự:

4. Về các tình tiết "gây thiệt hại nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự 

4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự: 

a. Làm chết một người; 

b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên; 

c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%; 

d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; 

đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; 

e. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

Theo thông tin bạn cung cấp, em bạn tham gia giao thông khi trong người có nồng độ cồn trong máu, không đội mũ bảo hiểm, xe chở 3, không có giấy phép lái xe và đã gây tai nạn giao thông làm chết một người một người bị thương. Như vậy, hành vi của em bạn có những tình tiết tăng nặng theo Khoản 2 Điều 202 BLHS nên em bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt từ ba năm đến mười năm.

Tham khảo bài viết liên quan: Mức bồi thường khi gây tai nạn giao thông được xác định dựa trên những tiêu chí, căn cứ pháp luật nào ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

 

4. Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi xảy ra tai nạn giao thông làm chết người ?

Thưa Luật sư, tôi có người bạn thân trước tết Nguyên đán, bạn tôi chở 01 người bạn ngồi trên 01 xe mô tô. Trên đường đi về nhà, đoạn đường vắng, không có người và phương tiện tham gia giao thông, đường hơi cua về bên trái theo hướng đi của xe, đường rộng 6m (không có lề đường), bạn tôi do bị trúng gió, choáng váng đầu óc nên đã đâm vào ba toa vỉa hè bên phải theo chiều đi của xe (vỉa hè cao 20 cm so với đường) làm xe mô tô đổ cày trượt theo vỉa ba toa đi khoảng 20m. 
Hậu quả bạn tôi bị thương nhẹ, người ngồi sau xe mô tô bị ngã đập đầu vào vỉa ba toa, sau 3 ngày thì bị chết. Về trách nhiệm dân sự bạn tôi đã bồi thường cho người ngồi sau xe mô tô, gia đình người ngồi sau không có đơn thư khiếu nại gì. Vậy trường hợp này bạn tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Vi phạm tội gì? Nếu không thì bạn tôi có bị xử phạt gì không? Kính mong Công ty luật giải đáp để bạn tôi không phải lo lắng.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Có bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi xảy ra tai nạn giao thông làm chết người ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự khi gây tai nạn giao thông, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Về trách nhiệm hình sự. Điều 202 Bộ Luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009  quy định như sau:

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy, tội vi phạm quy định về điều khiển giao tông đường bộ khi có đủ các yếu tố sau:

+ Đáp ứng điều kiện về chủ thể của tội phạm.

+ Có hành vi vi phạm quy định về giao thông đường bộ

+ Có thiệt hại về tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng về sức khoẻ, tài sản của người khác.

+ Hành vi vi phạm quy định về giao thông đường bộ là nguyên nhân  gây ra thiệt hại.

+ Có lỗi vô ý ( người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xẩy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hoặc người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

​Ta có thể thấy tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được thực hiện do lỗi vô ý do tự tin hoặc do cẩu thả.

+ Vô ý do tự tin, trong trường hợp người vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

+ Vô ý do cẩu thả, trường hợp người vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Nhưng theo như bạn nói, bạn hoàn toàn không hề có lỗi trong việc để tai nạn xảy ra. Do đó, có thể nói bạn sẽ không bị truy cứu hình sự liên quan đến tội phạm này. Vậy, đối chiếu với hành vi gây ra tai nạn giao thông của bạn bạn thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

 

5. Trách nhiệm hình sự khi xảy ra tai nạn giao thông chết người ?

Thưa Luật sư, tôi có trường hợp này của tôi mong công ty Luật giải đáp. Trước Tết Nguyên đán, bạn tôi điều khiển xe mô tô chở theo 01 người ngồi sau. Lúc đó khoảng 23h, bạn tôi đi xe với tốc độ khoảng 40km/h, khi đi đến đoạn đường hơi cua về phía bên trái theo chiều đi. 

Đường rộng khoảng 06m, không có người và phương tiện tham gia giao thông, bạn tôi kể do bị choáng váng, trúng gió, tối sầm mặt mày, vì vậy bạn tôi đã đâm vào ba toa vỉa hè cao hơn đường 20cm làm xe mô tô bị đổ, cày trượt theo mép vỉa ba toa 22m. Hậu quả bạn tôi bị thương nhẹ, người ngồi sau xe mô tô bị ngã đập đầu vào vỉa ba toa, sau 3 ngày thì bị chết. Về trách nhiệm dân sự bạn tôi đã bồi thường cho người ngồi sau xe mô tô, gia đình người ngồi sau không có đơn thư khiếu nại gì.

- Vậy trường hợp này bạn tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Vi phạm tội gì? Nếu không thì bạn tôi có bị xử phạt gì không?

Kính mong Công ty luật giải đáp để bạn tôi không phải lo lắng. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trách nhiệm hình sự khi xảy ra tai nạn giao thông chết người ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến về tai nạn giao thông, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Về trách nhiệm hình sự. Điều 202 Bộ Luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009  (Bộ Luật Hình sự năm 2015quy định như sau:

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy, tội vi phạm quy định về điều khiển giao tông đường bộ khi có đủ các yếu tố sau:

+ Đáp ứng điều kiện về chủ thể của tội phạm.

+ Có hành vi vi phạm quy định về giao thông đường bộ

+ Có thiệt hại về tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng về sức khoẻ, tài sản của người khác.

+ Hành vi vi phạm quy định về giao thông đường bộ là nguyên nhân  gây ra thiệt hại.

+ Có lỗi vô ý ( người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xẩy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hoặc người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

​Ta có thể thấy tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được thực hiện do lỗi vô ý do tự tin hoặc do cẩu thả.

+ Vô ý do tự tin, trong trường hợp người vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

+ Vô ý do cẩu thả, trường hợp người vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Nhưng theo như bạn nói, bạn hoàn toàn không hề có lỗi trong việc để tai nạn xảy ra. Do đó, có thể nói bạn sẽ không bị truy cứu hình sự liên quan đến tội phạm này. Vậy, đối chiếu với hành vi gây ra tai nạn giao thông của bạn bạn thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

 

6. Tư vấn bồi thường gây tai nạn giao thông gây chết người?

Thưa luật sư. Cho em hỏi anh của em trên đường đi làm về có xảy ra tai nạn giao thông làm anh em chết tại chỗ, bên kia cũng bị thương nhưng không nặng lắm.Được biết bên kia có uống rượu,nhưng không biết ai chạy lấn đường tại vì hiện trường được công an có lên chụp hình khám nghiệm nhưng không kẻ phấn,hỏi bên nào đúng thì bên công an không nói. Vụ tai nạn xảy ra cách đây gần 4 tháng mà bên công an không thông báo lên giải quyết chỉ có điện thoại lên trả phương tiện về. gia đình em hỏi chừng nào giải quyết thì bên công an chỉ nói là chờ cấp trên gửi hồ sơ vụ án chứ không nói chừng nào giải quyết hết. 
 Bên chủ phương tiện bên kia cũng không hỏi thăm hay đền bù gì hết.Cho em hỏi luật sư là lâu như vậy mà sao bên công an không giải quyết,thời gian từ lúc xảy ra tai nạn đến lúc giải quyết là bao lâu? Bây giờ không bít bên nào đúng hay sai như vậy bên nạn nhân bị tử vong có được đền bù gì ko? Nếu muốn kiếu nại thì phải làm như thế nào rất mong được sự tư vấn của luật sư. 

Tư vấn  bồi thường gây tai nạn giao thông gây chết người?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về bồi thường trực tuyến, gọi 1900.1940

Trả lời: 

Theo quy định tại Điều 16,17Quyết định 18/2007 của Bộ trưởng bộ Công an Ban hành quy trình điều tra và giải quyết tai nạn giao thông đường bộ của Bộ trưởng bộ Công an BAn hành quy trình điều tra và giải quyết tai nạn giao thông đường bộ.

Điều 16. Khởi tố vụ án và chuyển cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.

1. Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, qua điều tra giải quyết vụ tai nạn giao thông, xác định có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra, thì Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Trưởng Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; khẩn trương củng cố tài liệu, hồ sơ và chuyển cho đơn vị điều tra tội phạm về trật tự xã hội có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố. Khi chuyển hồ sơ và vật chứng (nếu có) của vụ án, phải lập biên bản bàn giao theo quy định; Cảnh sát giao thông phải sao toàn bộ hồ sơ lưu để theo dõi, thống kê phục vụ chế độ thông tin báo cáo theo quy định của Bộ Công an.

2. Cảnh sát giao thông cấp huyện, qua điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông, xác định có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra cấp huyện, thì chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện nơi xảy ra tai nạn ra quyết định khởi tố vụ án và tiến hành điều tra theo thẩm quyền.

3. Qua điều tra giải quyết vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng không có người chết, xác định không có dấu hiệu tội phạm thì Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt, Trưởng Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt ra quyết định không khởi tố vụ án hoặc Cảnh sát giao thông cấp huyện đề nghị Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện ra quyết định không khởi tố vụ án để xử lý hành chính theo Điều 17 Quy trình này.

Điều 17. Xử lý hành chính vụ tai nạn giao thông và va chạm giao thông

1. Mời các bên liên quan hoặc đại diện hợp pháp của họ đến trụ sở đơn vị để thông báo kết quả điều tra, kết luận nguyên nhân của vụ tai nạn và xác định lỗi của những người có liên quan trong vụ tai nạn, hình thức giải quyết. Cho các bên liên quan phát biểu ý kiến của họ. Mọi ý kiến đều được ghi vào biên bản giải quyết vụ tai nạn giao thông và có chữ ký của các bên liên quan đến tai nạn giao thông.

2. Lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định hoặc đề xuất lãnh đạo có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với người có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

3. Sau khi cá nhân bị xử phạt thực hiện xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cán bộ thụ lý lập biên bản trả lại phương tiện giao thông (nếu phương tiện còn đang bị tạm giữ), đồ vật và các giấy tờ đã tạm giữ cho người bị xử phạt; thu biên lai tiền phạt ghim vào góc bên trái quyết định xử phạt, lưu trong hồ sơ vụ tai nạn giao thông.

4. Giải quyết việc khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại giữa các bên liên quan trong vụ tai nạn giao thông khi các bên có yêu cầu đòi bồi thường:

- Trường hợp các bên liên quan tự thương lượng thỏa thuận khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại thì phải có bản cam kết thống nhất thỏa thuận về mức và hình thức bồi thường thiệt hại giữa các bên; ký và ghi rõ họ, tên những người liên quan. Thỏa thuận bồi thường thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ khi xem xét ra quyết định xử lý hành chính;

- Trường hợp các bên liên quan trong vụ tai nạn giao thông không tự thỏa thuận thương lượng được với nhau thì Cảnh sát giao thông có trách nhiệm hướng dẫn các bên liên hệ với Tòa án để giải quyết theo thủ tục dân sự. 

>>> Như vậy theo quy định trên thì không quy định thời gian cụ thể để giải quyết mà chỉ quy định cơ quan công an khi làm thủ tục khám nghiệm và giải quyết tai nạn giao thông thì nếu thấy có dấu hiệu tội phạm thi chuyển cho cơ quan có thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án. Còn nếu không thấy có dấu hiệu tội phạm thì mời các bên liên quan đến thỏa thuận để giải quyết.  Cơ quan công an chỉ mời gia đình bạn nên nhận lại phương tiện mà không giải quyết như vậy là sai. Bạn có thể làm đơn khiếu nại đến người trực tiếp ra quyết định hành chính đó hoặc thủ trưởng của người đó để được giải quyết theo quy định của Luật khiếu nại 2011. Hoặc bạn có thể gửi đơn yêu cầu người trực tiếp gây tai nạn giao thông cho anh bạn ra tòa , đây là yêu cầu bồi thường thiệt  hại ngoài hợp đồng, để được tòa  giải quyết.

2. Người gây ra tai nạn cho anh bạn sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định tại điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005:

"1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường".

Và cụ thể trong trường hợp này là bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo quy định tại điều 623 BLDS:

"1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định".

Vì sau khi hành vi gây tai nạn xảy ra, em bạn đã bị chết vì thế nên người gây ra tai nạn cho em bạn phải bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm hại được xác định cụ thể như sau:

"Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định".

Các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, mai táng, nghĩa vụ cấp dưỡng hay bồi thường về tinh thần được quy định cụ thể tại mục 2, phần 2
Nghị quyết Số: 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Thứ hai, về trách nhiệm hình sự

Ngoài trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự, người gây tai nạn còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này theo quy định tại điều 202 
Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổi sung năm 2009:

"1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

Tùy theo mức độ của hành vi vi phạm mà Tòa án sẽ có hình phạt cụ thể trong từng trường hợp.

Do đó, khi 1 người gây tai nạn giao thông dẫn đến hậu quả nghiêm trọng (làm chết người) thì họ sẽ phải chịu cả trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự.

7. Tư vấn về tai nạn giao thông gây chết người ?

Thưa Luật sư! Con tôi 24 tuổi đi xe môtô gây tai nạn làm chết 1 người, cũng đi môtô ngược chiều, đng nhau ở giữa đường hai xe cùng nằm chồng vào nhau trên vạch vôi một nét kẻ liền. Công an xác định con tôi có lỗi. Tôi đến gia đình nạn nhân thương lượng bồi thường nhưng gia đình không nhận. 

Gia đình cho rằng đó là tai nạn vô tình, ngoài  ý muốn nên không yêu cầu bồi thường. Đồng thời cũng không làm đơn khởi kiện, gia đình cũng không cho pháp y, và đã an táng người chết. Vì con tôi cũng bị thương rất nặng gia đình tôi rất khó khăn. Như vậy con tôi có bị khởi  tố hình sự không? Theo luật thì con tôi  phải  chịu những tội như thế nào? 

Tôi chân thành cám ơn.

Tư vấn về tai nạn giao thông gây chết người ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua tổng đài 24/71900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo Điều 202 qui định về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì:

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Hơn nữa, Khoản 4.1 Điều 4 Phần 1 Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP qui định cụ thể như sau:

4. Về các tình tiết "gây thiệt hại nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự 

4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự: 

a. Làm chết một người; 

b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên; 

c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%; 

d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; 

đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; 

e. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.

Dựa theo các căn cứ trên thì con bạn có thể bị khởi tố vụ án hình sự và có thể chịu mức án theo khoản 1 Điều 202 trên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê