Em nói trả 5 triệu cho 5 triệu nhưng bạn cũng không trả. Rồi sau đó bạn đổi ý đồng ý trả 3 triệu nhưng đến tối lại quyết định không trả nữa mà để tiền mua xe đạp điện. Lúc đó em rất bực mình. Do trước đây chúng em yêu nhau nên e biết mật khẩu atm của cô ấy. Hôm trước em có sang phòng cô ấy chơi và lấy atm của cô ấy rút 7 triệu( trong atm có 9 triệu). Sau đó em nhắn tin bảo với cô ấy sẽ lấy lại 5 triệu và cho 5 triệu. Nhưng cô ấy không đồng ý. Cô ấy đi báo công an. Thì bây giờ e có bị phạt gì không ạ. Em có giấy biên lai chuyển tiền 10 triệu và tin nhắn cô ấy nói không trả tiền chứng minh tiền trong atm của cô ấy là tiền e chuyển cho vay.

Xin luật sư tư vấn giúp em ạ. Em xin cảm ơn ạ!

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự​ của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp luật: 

Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009

Bộ luật Dân sự 2005

2. Nội dung tư vấn:

Trường hợp của bạn căn cứ các quy định Luật Dân sự hiện hành có thể xác định hai bạn đã xác lập hợp đồng vay tài sản, và ở đây có sự vi phạm nghĩa vụ của bên vay tài sản.

Tại Điều 471. Hợp đồng vay tài sản Bộ luật Dân sự 2005 quy định:

"Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay Bộ luật Dân sự 2005:

"1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Về nghĩa vụ trả nợ, cần xem xét rõ hợp đồng vay được xác lập này giữa hai bạn là hợp đồng vay có xác định thời hạn hay không xác định thời hạn, để có thể bảo vệ quyền lợi của bạn, trong trường hợp là hợp đồng vay có xác định thời hạn, thời điểm bạn yêu cầu trả nợ là thời hạn bên kia phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà bên vay tài sản không trả lại tài sản đã vay thì phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 302 Bộ luật Dân sự, và bạn chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn vay, nếu được bên vay đồng ý (tham khảo khoản 1 Điều 478 Bộ luật Dân sự 2005). Trong trường hợp hợp đồng vay này là hợp đồng không xác định thời hạn, bạn có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý. 

Về vấn đề bạn lấy atm rút 7 triệu đồng từ tài khoản ngân hàng của bên vay, sau đó bị báo công an, căn cứ quy định Luật hình sự hiện hành, cụ thể tại Điều 138. Tội trộm cắp tài sản:

 "1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.", xem xét các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định Điều luật này:

1. Chủ thể

- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 138 Bộ luật hình sự thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 3, 4 Điều 138 thì người phạm tội phải đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

2. Khách thể:

Quan hệ sở hữu

Nếu sau khi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết hoặc làm bị thương người khác thì có thể bị truy cứu thêm trách nhiệm hình sự về tội khác

3. Mặt khách quan của tội phạm

- Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, người quản lý tài sản, hoặc lợi dụng hoàn cảnh mà người quản lý tài sản không biết.

- Có hậu quả xảy ra là tài sản bị chiếm đoạt thuộc một trong các trường hợp:

+) Với những tài sản to lớn, cồng kềnh, người phạm tội phải chuyển được tài sản đó ra khỏi phạm vi cất giữ

+) Với nhưng tài sản nhỏ, dễ cất giấu, chỉ cần đưa tài sản ra khỏi vị trí cất giữ ban đầu

+) Với tài sản không có nơi cất giữ riêng, người phạm tội phải đưa tài sản đó ra khỏi địa bàn (địa điểm phạm tội) thì tội mới hoàn thành.

Ngoại lệ: Tài sản từ 2 triệu đồng trở lên, nếu có giá trị rất lớn như ô tô, xe máy, máy tính… thì dù người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản thì vẫn bị coi là phạm tội

4. Mặt chủ quan của tội phạm

- Lỗi cố ý

- Mục đích chiếm đoạt tài sản (dấu hiệu bắt buộc).

Hành vi của bạn đã đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009. Và mức hình phạt đối với tội phạm này là phạt cải tạo không giam giữ tới ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Để bảo vệ quyền lợi của mình, chúng tôi khuyên bạn nên chủ động thương lượng hòa giải với phía bạn của bạn từ đó có thể tìm hướng giải quyết tốt nhất.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Tư vấn pháp luật miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.    
Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê