Lương tôi là 15 triệu mỗi tháng, bắt đầu từ 9 /2011 đến nay. Mỗi tháng xếp chỉ trả tôi 1/ 2 lương, tôi ký lương ghi rõ là 1 / 2 lương tháng, xếp nói là phần còn lại sẽ trả sau. Đến cuối 4 / 2012 tiền thiếu đã là 37,5 triệu, xếp có ký giấy mượn tiền không lãi số tiền này, cam kết sẽ trả trước 1 / 10 / 2012, nếu không sẽ bị xử lý theo những qui định của pháp luật. Từ tháng 4/2012 tháng 9 / 2012, tiền thiếu lương là 60 triệu. Giữa chúng tôi không có hợp đồng lao động nhưng xếp có ký thêm tờ giấy mượn tôi 59 triệu ( trừ 1 triệu tiền điện thoại). Đến nay cả 2 khoản xếp thiếu tôi 37,5 + 59 = 96,5 triệu, có ký giấy mượn tiền ( gởi kèm ảnh chụp). Nếu công ty có giấy phép đòi nợ, tôi sẽ ký hợp đồng là công ty dùng những biện pháp được nhà nước cho phép để đòi nợ, nếu có sai phạm công ty hoàn toàn chị trách nhiệm!. Tôi không ứng trước bất cứ khoản tiền nào vì sợ mất tiền mà không đòi được gì. Xin cho biết chi phí đòi nợ, chừng nào ký hợp đồng, dự kiến chừng nào đòi xong nợ.
Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: VV Đôn

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luậtcủa Công ty Luật Minh Khuê.

.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  - 1900 6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Về vấn đề của bạn, Công ty xin giải đáp như sau:

 Cơ sở Pháp lý:

- Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004

- Nghị định số 104/2007/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ đòi nợ

Nội dung phân tích:

Thứ nhất, về yêu cầu dịch vụ đòi nợ:

Trước hết Về dịch vụ đòi nợ là dịch vụ cần có điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật. Cụ thể tại Điều 4 Nghị định số 104/2007/NĐ-CP quy định:

" Điều 4. Nguyên tắc hoạt động dịch vụ đòi nợ

1. Chỉ những doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ đòi nợ mới được phép hoạt động dịch vụ đòi nợ.

2. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ không được kinh doanh các ngành, nghề và dịch vụ khác ngoài dịch vụ đòi nợ.

3. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ chỉ được thực hiện các biện pháp xử lý nợ phù hợp với quy định của pháp luật.

4. Hoạt động dịch vụ đòi nợ thực hiện theo hợp đồng ủy quyền được ký kết giữa chủ nợ hoặc khách nợ với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ trong phạm vi quyền được pháp luật công nhận."

Công ty Luật TNHH Minh Khuê không đăng ký kinh doanh dịch vụ đòi nợ vì vậy chúng tôi không hoạt động dịch vụ này.

Thứ hai, Hướng giải quyết:

Khoản nợ lương giữa bạn và sếp chỉ được xác nhận qua sự thỏa thuận mà không có hợp đồng lao động. Khoản vay 59 triệu được xác nhận qua văn bản tuy nhiên giá trị pháp lý lại không được đảm bảo. Vì vậy, để có thể giải quyết vấn đề bạn cần thu thập chứng cứ liên quan đến việc nợ lương, vay tiền của sếp với mình thỏa thuận về việc trả nợ với sếp hoặc có thể thực hiện thủ tục khởi kiện theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004. Cụ thể:

Hồ sơ khởi kiện bao gồm các giấy tờ sau:

-Đơn khởi kiện (theo mẫu);

- Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp;

- Chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu gia đình (có chứng thực hoặc công chứng);

- Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện (bạn phải ghi rõ số lượng bản chính, bản sao)- các tài liệu này bạn phải đảm bảo có tính căn cứ và hợp pháp.

Bạn có thể nộp đơn tại tòa án nhân dân cấp huyện, quận nơi mà người bạn của bạn cư trú, làm việc. Nếu không biết nơi cư trú, làm việc của người bạn của bạn thì bạn có thể yêu cầu tòa án nơi hợp đồng được thuực hiện giải quyết (theo Điểm g, Khoản 1, Điều 36 BLTTDS sửa đổi 2011).

“Điều 36. Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;

c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;

đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;

g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;

h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;

i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.

2. Người yêu cầu có quyền lựa chọn Toà án giải quyết yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình trong các trường hợp sau đây:

a) Đối với các yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6 và 7 Điều 26 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết;

b) Đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Toà án nơi cư trú của một trong các bên đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết;

c) Đối với yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn thì người yêu cầu có thể yêu cầu Toà án nơi người con cư trú giải quyết.”

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, xin đảm bảo tất cả những thông tin tư vấn hoàn toàn đúng theo tinh thần pháp luật. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi.

Trân trọng./.


BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ