Tôi muốn hỏi bây giờ tôi không có khả năng chi trả, tôi phải rồi địa bàn sinh sống để đi làm ăn xa. Nhưng tôi có báo với họ là tôi sẽ gửi tiền về trả xin không tính lãi để trả gốc về họ đồng ý. Trường hợp mỗi tháng tôi trả về 1 ít liệu sau khi trả hết họ quay sang không trả tôi giấy tờ vay nợ cũng như giấy tờ tuỳ thân để bắt tôi trả lãi thì tôi phải làm như thế nào. Năm trong quá trình năm 2013 tôi vừa vay của chị A vừa giúp c c A cho người khác vay theo kiểu vay họ như vậy. Khi người ta không có khả năng chi trả nên chị A có bắt tôi đứng ra viết 1 tờ giấy vay tiền tổng số tiền khoảng 150tr( trường hợp vay họ chị A đã cắt lãi từ đầu nên 150tr này là số tiền còn lại fai đóng tức là đã có lãi). Hàng tháng tôi phải thay người ta trả cho chị A 5tr/ tháng và đã trả đc khoảng 10 tháng. Tôi muốn hỏi khi tôi trả 5tr/tháng tôi không có nhận được giấy nhận tiền từ chị A thì nếu chị A quay ra phủ nhận số tiền tôi đã trả hàng tháng thì tôi phải làm như thế nào. Trường hợp của tôi nếu bi kiện liệu tôi có phạm tội không? Nếu tôi muốn tố cáo ngược lại những người cho vay lãi cao đó liệu có được không. Thật sự tôi hi vọng không ai vì 1 lần tính sai như tôi mà khổ nữa.

Tôi cảm ơn luật sư.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi:  1900.6162
 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009

Bộ luật tố tụng hình sự số 19/2003/QH11.

2. ​Nội dung tư vấn:

- Đối với trường hợp viết giấy vay tiền nhưng họ bảo bạn viết giấy nhận tiền đặt cọc mua xe máy thì giao dịch này bạn có thể yêu cầu tòa án tuyên vô hiệu do giao dịch dân sự giả tạo. Theo điều 129 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo  

Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.

Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu."

Theo quy định tại điều 1 Quyết định số 2868/QĐ-NHNN mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm.

Theo điều 476 Bộ luật dân sự 2005 quy định về lãi suất:

"Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Như vậy, lãi suất cho vay tại thời điểm hiện tại là không quá 13,5%/năm.

Giả sử trường hợp năm có 365 ngày thì lãi suất cho vay tối đa trung bình một ngày sẽ là 13,5 : 365 = 0,0369863%/ngày.

Còn giao dịch vay tiền thì khi có tranh chấp về lãi suất thì nếu không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

- Trường hợp vay tiền của chị A:

Theo điều 471, 473, 474 BLDS 2005:

"Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

"Điều 473. Nghĩa vụ của bên cho vay

Bên cho vay có các nghĩa vụ sau đây:

1. Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thoả thuận;

2. Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó;

3. Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 478 của Bộ luật này."

"Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Như vậy, theo BLDS 2005 không quy định hình thức hợp đồng vay tài sản nên hợp đồng có thể bằng văn bản hoặc bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể.; khi bạn và chị A đã lập hợp đồng vay tiền thì bạn phải trả đủ tiền khi đến hạn. Nếu bạn đã trả góp tiền cho chị A nhưng bạn không có giấy tờ chứng minh việc nhận tiền, bạn có bằng chứng chứng minh được giao dịch trả tiền đó mà chị A lại phủ nhận việc đã nhận tiền thì bạn có thể khởi kiện chị A.

Hiện tại pháp luật không cấm việc vay dưới hình thức họ, nhưng nếu chị A cho vay nặng lãi với lãi suất gấp 10 lần lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước trở lên, có tính chất chuyên bóc lột thì chị A sẽ phạm tội cho vay nặng lãi và bạn có thể tố cáo. Căn cứ Điều 163 BLHS quy định:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2.  Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.

3.  Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Căn cứ vào Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì bạn có thể nộp đơn tố cáo hành vi tội phạm của người khác tại các cơ quan sau:

“Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản”.

Trường hợp bạn nợ tiền không trả được và có dấu hiệu bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản thì bạn có thể phạm tội  lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điệu 140 BLHS như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:  1900.6162  hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật dân sự.