Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

Câu hỏi: Tôi có vay của anh A 50 triệu đồng. Do cần tiền nên tôi đồng ý viết giấy theo như a A đọc với nội dung giấy biên nhận, tôi nhận số tiền đặt cọc 50 triệu đồng của a A để mua cho a A 2 cây vàng SJC 9999 mới 100% giá thời điểm hiện tại là 37 triệu đồng 1 cây vàng trên.tôi hẹn trong vòng 10 ngày sẽ giao cho a A 2 cây vàng đúng chủng loại tren và mới 100% thì a A sẽ giao nốt số tiền còn lại là 24 triệu đồng. Đến nay tôi làm ăn thua lỗ nên chưa trả được 50 triệu cho a A, tôi có khất hẹn trả dần cho a A nhưng a A không đồng ý và gửi đơn đến cơ quan điều tra yêu cầu xử lý tôi trước pháp luật. Vậy tôi có bị phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự 2015

- Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung

2. Luật sư tư vấn:

Luật sư tư vấn trường hợp vay tiền nhưng không có khả năng trả, chủ nợ đòi kiện hình sự, các vấn đề pháp lý liên quan và hướng giải quyết.

Thứ nhất, về vấn đề vay tiền giữa bạn và anh A, lúc này hai bên đã viết giấy biên nhận nhưng thực chất văn bản đó là một hợp đồng dân sự với quyền và nghĩa vụ nhất định của mỗi bên.

Theo thông tin anh cung cấp thì hợp đồng này không thể hiện quan hệ vay tài sản mà mang tính chất hợp đồng dịch vụ thực hiện một công việc, trong đó anh A giao tiền 50 triệu đồng cho anh, còn anh có nghĩa vụ mua 2 cây vàng cho anh A và thanh toán nốt phần tiền còn lại. Khi giải quyết ngoài Tòa án, Tòa sẽ căn cứ trên giao dịch thực sự mà các bên giao kết, nghĩa là quan hệ chính vẫn là quan hệ vay tài sản, còn về phương thức trả tài sản vay có thể thực hiện dưới hình thức trả bằng 2 cây vàng như đã thỏa thuận.

Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về hợp đồng vay tài sản tại Điều 463 như sau:

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Đồng thời, bộ luật dân sự cũng quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay tại Điều 466:

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, bạn có nghĩa vụ trả lại số tài sản vay là 50 triệu đồng cho anh A khi đã đến hạn, nếu hai bên công nhận phương thức trả qua việc giao nhận 2 cây vàng 100% giá trị mới thì phải đảm bảo thỏa thuận này. Nếu không thực hiện được theo đúng thỏa thuận thì sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, và có thể sẽ bị tính lãi do nợ quá hạn.

Về vấn đề truy cứu trách nhiệm Hình sự khi quá hạn không thực hiện trả nợ theo hợp đồng, Bộ luật Hình sự 2015 có quy định về tội danh Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 175 như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...... Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

Theo đó, nếu thông qua hợp đồng vay, bạn có nhận được số tiền 50 triệu đồng của anh A, nhưng đến hạn lại không trả thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng chỉ trong những trường hợp sau:

- Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản đã nhận được;

- Có đủ điều kiện trả nhưng cố tình không trả lại tài sản;

- Dùng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Như vậy, nếu bạn có dấu hiệu cắt đứt liên lạc với anh A, bỏ trốn khỏi địa phương nhằm không trả lại số tiền 50 triệu đã vay của anh A. Hoặc có căn cứ cho rằng bạn có đủ điều kiện trả nợ nhưng không có thiện chí trả lại cho anh A thì trách nhiệm hình sự với tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể sẽ đặt ra.

Tuy nhiên, nếu bạn vẫn giữ liên lạc, hứa hẹn sẽ trả lại tài sản trong tương lai, không hề bỏ trốn hay không có dấu hiệu muốn chiếm đoạt khối tài sản này mà không trả lại cho chủ sở hữu,… thì tranh chấp giữa bạn và anh A vẫn chỉ mang tính chất dân sự, và không có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê