số tiền tôi đã trả phần lớn trừ vào lãi, đại thể tổng số tiền tôi đã trả là khoảng 135.000.000 đồng mà đến thời điểm đó chị ta có ép tôi viết giấy nhận nợ số tiền 160.000.000 đồng bao gồm gốc và lãi gộp lãi. Tôi trả chị ta có những giấy tờ còn lưu và có tờ không lưu (vì có lần trả tiền mặt,có lần trả vào tài khoản của chị ta). Đến cuối năm 2015 chị ta có thuê luật sư và đòi nợ tôi, tôi cũng có nói tôi sẽ trả thêm nhưng đề nghị chị ta bớt (vì tôi nể là mối quan hệ lâu năm nên thực sự cũng không nề hà thêm 1 vài chục triệu) nhưng chị ta chỉ đồng ý bớt 20.000.000đồng, quả thực đến lúc này tôi không có khả năng trả từng đó tiền, trong khi đó tính ra tiền gốc chị ta đã lấy về đc bao lâu rồi và số tiền tôi trả cũng đã quá số gốc nên tôi không đồng ý. Và hiện tại chị ta làm đơn kiện tôi ra Tòa. Bản thân tôi nghĩ tiền tôi cũng không hề không trả mà do hoàn cảnh nên thực sự lực bất tòng tâm. Vậy rất mong Luật Minh Khuê cho tôi hỏi, nếu ra Tòa thì chị ta có bị tội cho vay nặng lãi không? Tôi sẽ bị kết tội gì? Và nếu bị kết tội ở vụ kiện này tôi có bị coi là có tiền án k? Thêm nữa,cho tôi hỏi với trường hợp của tôi nếu tôi nhờ đến sự bảo vệ của Luật Minh Khuê tại tòa thì chi phí như thế nào? Bản thân tôi qua những tình huống đã đọc trên web của Minh Khuê cũng hiểu ra nhiều điều nên mạn phép hỏi bên cty trường hợp của mình, nếu mọi thứ hợp lý cho tôi thì tôi cũng rất muốn mình sẽ là khách hàng của cty. Rất mong câu trả lời của Minh Khuê. Một lần nữa xin chân thành cảm ơn, Quỳnh Nga.

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sự gọi1900 6162

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005

Bộ luật hình sự 1999.

Nội dung trả lời:

Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005 có quy định về lãi suất vay như sau: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Theo Quyết định 2868/QĐ-NHNN 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước, kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2010, lãi suất cơ bản là 9%/ năm.

Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/ năm

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 :12 = 1,125%/tháng

Như vậy, 129.000.000 đồng sẽ có lãi suất tối đa trung bình một tháng là 1.451.250 đồng/tháng, hay 48.375 đồng/ngày

Bạn và bên cho vay thỏa thuận lãi xuất 4.000đồng/triệu/ngày (tương ướng với 516.000 đồng/129 triệu/ngày) đã vượt quá mức lãi suất tối đa mà pháp luật cho phép.

Về tội cho vay nặng lãi theo quy định của Bộ luật hình sự, tại Điều 163 có quy định như sau:

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Lãi suất vay của bạn hiện gấp lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định là: (516.000 *30) : 1451250  = 10,67  (lần)

Như vậy, chỉ khi mức lãi suất cao hơn lãi suất cao nhất pháp luật quy định 10 lần trở lên thì mới cầu thành tội cho vay nặng lãi theo pháp luật hình sự. Hiện lãi suất bạn đang vay chỉ gấp lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định 10,67 lần, cho nên phía cho vay đã cấu thành tội cho vay nặng lãi theo quy định của pháp luật.

Khi này bạn không bị kết tội, mà phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định pháp luật. Cụ thể tại điều 474 bộ luật dân sự 2005 quy định:

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

 Khi này, bạn xuất trình giấy tờ, tài liệu liên quan đến số tiền 135.000.000 đồng bạn đã trả được, để Tòa làm cơ sỏ trừ đi để tính số tiền gốc và lãi bạn phải hoàn trả cho bên kia.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bác vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận luật sư dân sự.