Hiện nay đã đến hạn trả nhưng anh A chưa trả. Tôi nghe nói anh A đã chuyển nhượng đất cho người khác. Tôi xem lại bìa đỏ thì phát hiện nó được làm từ năm 1997. Tôi sợ rằng họ đã làm bìa mới. Mong luật sư tư vấn giúp tôi nếu anh A không chịu trả thì gia đình tôi phải làm sao? Tôi có thể đòi lại được tiền không?

Cám ơn luật sư!

Người hỏi: Hoàng Anh

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Vấn đề của bạn Luật Minh khuê xin được trả lời như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005

Luật đât đai năm 2013

Bộ luật hình sự 2009, sửa đổi

 2. Nội dung tư vấn:

Hiện nay theo quy định tại Điều 471 BLDS 2005 có quy định về hợp đồng vay tài sản như sau:

Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

Về hình thức của hợp đồng vay tài sản: Pháp luật hiện hành không quy định cụ thể về hình thức của hợp đồng này. Do đó, hợp đồng vay tài sản có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Căn cứ quy định trên, giấy vay tiền của  bạn và anh A là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tuy nhiên về biện pháp thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo cho khoản vay này thì theo quy định tại Điều 343 BLDS quy định:

Điều 343. Hình thức thế chấp tài sản

Việc thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản thế chấp phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký.

mà theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013 có quy định về hình thức của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất như sau: Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

Như vậy việc bạn cho anh A vay tiền nhưng có thế chấp quyền sử dụng đất mà không thực hiện công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật mà anh A chỉ đưa bìa đỏ cho bạn là không tuân thủ theo quy định của pháp luật vì vậy việc thế chấp khong được pháp luật thừa nhận.

Tuy nhiên hợp đồng vay tiền của anh vẫn được pháp luật thừa nhận. Vì vậy anh có thể yêu cầu anh A trả lại số tiền 100 triệu. Nếu anh A không chịu trả và cố tình trốn tránh và có dấu hiêụ  " bỏ trốn" theo Điều 140 BLHS thì anh có thể tố cáo anh A về hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Cụ thể Điều 140 BLHS quy định:

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại, gọi: 1900.6162 

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê