Tôi nhờ bạn tôi mua giúp căn hộ từ 2010 mới trả được 25% giá trị thì cả 2 bên dừng thực hiện hợp đồng bạn tôi đã làm đơn đề nghị tổng công ty chuyển toàn bộ số tiền đã nộp và các văn bản tiếp tục thực hiện hợp đồng đó cho tôi. Tháng 5/2015 tôi xin thanh lý HĐ và đã được công ty đó chấp nhận trả lại tiền nhưng bạn tôi bị đi tù vì lừa đảo ở một vụ án xảy ra năm 2012, bà ta nói lấy tiền của các bị hại để mua căn hộ trên, tòa phán quyết thu hồi tiền nộp mua căn hộ đó để trả cho bị hại, công ty không trả tiền cho tôi mà yêu cầu tôi phải làm rõ. Cán bộ thi hành án nhận đơn của tôi và nói là tài sản đó đúng là của tôi, yêu cầu tôi kiện ra tòa để tòa phán quyết lại, mong công ty giúp tôi.

Câu hỏi được biên tập từchuyên mục hỏi đáp pháp luậtcủa Công ty Luật Minh Khuê.

Vướng mắc trong vấn đề lấy lại tiền thanh lý hợp đồng ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng lựa chọn công ty chứng tôi. Với nội dng yêu cầu cả bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Cơ sở pháp lý :

Bộ luật dân sự 2005.

Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011.

Nội dung tư vấn :

Đối với trường hợp của bạn cần xác định quyền sở hữu hợp pháp của bạn đối với số tiền đã chuyển cho bạn của bạn.

Theo thông tin bạn cung cấp bạn đã nhờ bạn của mình đứng ra thực hiện các giao dịch dân sự mua bán căn hộ giúp mình như vậy có nghĩa là bạn đã xác lập một hợp đồng ủy quyền căn cứ theo Điều 581 BLDS, đối với hợp đồng ủy quyền pháp luật không quy định về hình thức của hợp đồng nên việc bạn giao dịch bằng miệng với bạn của mình về việc ủy quyền được coi là có giá trị pháp lý.

"Điều 581. Hợp đồng uỷ quyền

Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Đối với hợp đồng ủy quyền này bên nhận ủy quyền nghĩa là bạn của bạn có nghĩa vụ "Giao lại cho bên uỷ quyền tài sản đã nhận và những lợi ích thu được trong khi thực hiện việc uỷ quyền theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật;" căn cứ theo khoản 5 Điều 584 BLDS. Trường hợp của bạn hai bên đã chấm dứt việc ủy quyền này theo thỏa thuận rồi thì bên có nhận ủy quyền có nghĩa vụ phải chuyển giao lại số tiền cùng toàn bộ văn bản hợp đồng lại cho bạn và bạn là người có quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng này. Theo đó việc bạn có quyền nhận lại số tiền cho bên bán sau thanh lý hợp đồng là hoàn toàn hợp pháp. Các khoản tiền mà bạn bạn đã lừa đảo hoàn toàn không liên quan đến số tiền của bạn bởi số tiền này thuộc quyền sở hữu của bạn. Như vậy việc tòa án ra quyết định thu hồi toàn bộ số tiền trên để trả cho các bị hại là chưa hợp pháp, để bảo vệ được quyền và lợi ích cho mình bạn có thể làm đơn khiếu nại quyết định dân sự của tòa án căn cứ theo khoản 1 Điều 391 Luật tố tụng dân sự.

"Điều 391. Quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự có thể bị khiếu nại
1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình."

Vậy bạn cần làm đơn khiếu nại quyết định dân sự gửi đến tòa án đã ra quyết định này, đồng thời có các quyền và nghĩa vụ sau :

"Điều 392. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại
1. Người khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khiếu nại;
b) Khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án;
c) Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại;
d) Được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giải quyết khiếu nại; nhận quyết định giải quyết khiếu nại;
đ) Được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
2. Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết;
b) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó;
c) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật."

Thời hiệu khiếu nại là 15 ngày kể từ kho bạn biết được quyết định dân sự này.

"Điều 394. Thời hiệu khiếu nại
Thời hiệu khiếu nại là mười lăm ngày, kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người đó cho rằng có vi phạm pháp luật.
Trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn quy định tại Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật dân sự.