1. Có mấy Loại báo cáo về môi trường hiện nay( tên gì, nội dung phải có, thẩm quyền lập, đặc điểm). Nội dung thể hiện sự khác biệt giữa các bản báo cáo? Trách nhiệm lập và công khai báo cáo (lưu ý chủ thể đặc thù) .Bản báo cáo nào mang tính cấp thiết nhất? 

2. Tiêu chí để chia các bản báo cáo theo quan điểm của Luật bảo vệ môi trường 2005 và Luật bảo vệ môi trường 2014 có sự khác biệt gì?Tiêu chí nào phù hợp, tại sao?

3. Điều 136 Luật BVMT 2014 có gì đáng lưu ý?

Tôi đang nghiên cứu bên mảng này mà đang bế tắc thông tin mong Luật sư giải đáp giúp cho, tôi thành thật cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự công ty Luật Minh Khuê.

 

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật Bảo vệ môi trường 2014

Luật Bảo vệ môi trường 2005

Nội dung tư vấn:

 1. Có mấy Loại báo cáo môi trường hiện nay( tên gì, nội dung phải có, thẩm quyền lập, đặc điểm). Nội dung thể hiện sự khác biệt giữa các bản báo cáo? Trách nhiệm lập và công khai báo cáo (lưu ý chủ thể đặc thù). Bản báo cáo nào mang tính cấp thiết nhất? 

Theo quy định tại mục 3 Chương XIII Luật Bảo vệ Môi trường 2014, có 3 loại báo cáo môi trường: Báo cáo công tác bảo vệ môi trường hàng năm, báo cáo kinh tế - xã hội hàng năm và báo cáo hiện trạng môi trường. 

1.1. Báo cáo công tác bảo vệ môi trường:

- Chủ thể lập: Ủy ban nhân dân các cấp; Ban quản lý khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp; Bộ, ngành; Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

- Nội dung: 

+ Hiện trạng, diễn biến các thành phần môi trường.

+ Quy mô, tính chất và tác động của các nguồn phát thải.

+ Tình hình thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường; kết quả thanh tra, kiểm tra.

+ Danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và tình hình xử lý.

+ Nguồn lực về bảo vệ môi trường.

+ Đánh giá công tác quản lý và hoạt động bảo vệ môi trường.

+ Phương hướng và giải pháp bảo vệ môi trường.

- Đặc điểm: Báo cáo này được lập để báo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về công tác bảo vệ môi trường trong năm. Báo cáo này được lập hàng năm. 

1.2. Báo cáo kinh tế - xã hội hàng năm:

- Chủ thể lập: Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp

- Nội dung: đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường và công tác bảo vệ môi trường

- Đặc điêm: được lập hàng năm và nội dung về môi trường nằm trong báo cáo kinh tế - xã hội, là một phần của báo cáo kinh tế - xã hội.

1.3. Báo cáo hiện trạng môi trường:

- Chủ thể lập: Bộ Tài nguyên và Môi trường; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

- Nội dung: báo cáo hiện trạng môi trường gồm: 

+ Tổng quan về tự nhiên, kinh tế, xã hội.

+ Các tác động môi trường.

+ Hiện trạng và diễn biến các thành phần môi trường.

+ Những vấn đề bức xúc về môi trường và nguyên nhân.

+ Tác động của môi trường đối với kinh tế, xã hội.

+ Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật và các hoạt động bảo vệ môi trường.

+ Dự báo thách thức về môi trường.

+ Phương hướng và giải pháp bảo vệ môi trường.

- Đặc điểm: gồm 2 loại báo cáo vào hai thời gian khác nhau:

+ Lập báo cáo hiện trạng môi trường 05 năm một lần

+ Lập báo cáo chuyên đề về hiện trạng môi trường hàng năm

Báo cáo cấp thiết nhất là báo cáo công tác bảo vệ môi trường hàng năm vì báo cáo này không chỉ do cơ quan nhà nước lập mà còn do ban quản lý khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp lập. Những chủ thể này đều là những chủ thể có thẩm quyền quản lý vấn đề môi trường không chỉ trong tầm vĩ mô mà còn cả vi mô (ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện, bộ, ngành) về vấn đề môi trường trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của nhân dân, việc khai thác, sản xuất, đầu tư của các chủ thể kinh doanh, sản xuất. Vì vậy, báo cáo này phản ánh thực trạng từ những phạm vi quản lý nhỏ, hẹp nhất về vấn đề môi trường, từ đó đưa ra phương hướng và giải pháp bảo vệ môi trường. Muốn bảo vệ môi trường thì phải bảo vệ tốt từ cơ sở, từ những phạm vi quản lý nhỏ nhất rồi mới có thể quản lý ở phạm rộng lớn, bao quát. Vì vậy, đây là báo cáo cấp thiết nhất. 

2. Tiêu chí để chia các bản báo cáo theo quan điểm của Luật bảo vệ môi trường 2005 và Luật bảo vệ môi trường 2014 có sự khác biệt gì?Tiêu chí nào phù hợp, tại sao?

Luật Bảo vệ môi trường 2005 phân loại có 3 loại báo cáo môi trường: báo cáo hiện trạng môi trường cấp tỉnh; báo cáo tình hình tác động môi trường của ngành, lĩnh vực; báo cáo môi trường quốc gia. Luật Bảo vệ môi trường 2005 phân loại theo tiêu chí chủ thể lập báo cáo còn Luật bảo vệ môi trường 2014 phân loại theo tiêu chí nội dung của báo cáo. Theo quan điểm của chúng tôi, tiêu chí phân loại theo Luật Bảo vệ môi trường 2014 phù hợp hơn vì có những chủ thể sẽ phải lập nhiều loại báo cáo khác nhau chứ không tách biệt như theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2005. Mỗi chủ thể quản lý một lĩnh vực và có những chủ thể quản lý chung nên họ phải lập các báo cáo với các nội dung và tính chất khác nhau được bao quát trên nhiều lĩnh vực. Tiêu chí phân loại theo nội dung báo cáo đảm bảo trách nhiệm của các chủ thể trong việc bảo vệ môi trường. Từ nội dung của báo cáo mà phát sinh thêm các chủ thể phải lập báo cáo (như UBND các cấp, ban quản lý khu kinh tê, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp; Chính phủ) vì các nhà làm luật thấy rằng, với vấn đề về môi trường như vậy thì không chỉ một cơ quan phải lập mà cần nhiều cơ quan với thẩm quyền quản lý hẹp hơn cũng phải lập. Do đó, việc quản lý vấn đề môi trường được sát sao, sâu sắc và toàn diện hơn do trách nhiệm lập báo cáo được phân bổ rộng hơn, nội dung của báo cáo chi tiết và cụ thể hơn. Hơn nữa, phân loại theo nội dung báo cáo đảm bảo việc quản lý khoa học và mang tính chuyên sâu hơn. Vì vậy, tiêu chí phân loại theo Luật Bảo vệ môi trường 2014 phù hợp hơn. 

3. Điều 136 Luật BVMT 2014 có gì đáng lưu ý?

Điều 136 Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định: "Nội dung bảo vệ môi trường trong báo cáo kinh tế - xã hội hằng năm:

Báo cáo kinh tế - xã hội hằng năm của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp phải đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường và công tác bảo vệ môi trường." Điều luật này nhấn mạnh về nội dung bắt buộc phải có trong báo cáo kinh tê - xã hội hàng năm của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp: việc thực hiện các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường và công tác bảo vệ môi trường. Vì Chính phủ và Ủy ban nhân dân là cơ quan có thẩm quyền quản lý chung các vấn đề kinh tế, xã hội. Hơn nữa, môi trường là yếu tố không thể tách rời quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Mục tiêu của Nhà nước ta là phát triển bền vững, vì vậy, việc bảo vệ môi trường không thể tách rời được việc phát triển kinh tế, xã hội. Do đó, trong báo cáo kinh tế - xã hội hàng năm của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp phải đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường và công tác bảo vệ môi trường. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!                                  

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn luật dân sự.