Nhưng từ tháng 8 năm 2015 do làm ăn thua lỗ nên tôi không trả lãi được thì chị đó và chồng sang nhà ép hai vợ chồng tôi ký vào giấy vay nợ tổng số là 730 triệu trong đó có 130 triệu là tiền lãi và cho vợ chồng tôi trả dần nghĩ mình là người làm ăn tử tế không may bị như vậy nên hai vợ chồng tôi đều ký vào giấy vay tiền.

Nhưng đến tháng 2/2016 chị đó làm đơn khởi kiện vợ chồng tôi ra tòa, tòa giải quyết và khi thi hành án bắt vợ chồng tôi phải nộp án phí xét xử và án phí thi hành án, vợ chồng tôi đang lúc khó khăn nhà không có mà ở thì lấy đâu ra tiền nộp án phí, theo luật sư tòa giải quyết như thế có đúng không? Bên thi hành án còn nói nếu sau 10 ngày kể từ ngày thông báo nộp án phí vợ chồng tôi không nộp thì bên thi hành án sẽ lên cơ quan của hai vợ chồng để nhằm khấu trừ vào lương, rất luật sư giải đáp giúp tôi về việc bên thi hành án có quyền làm như vậy không?.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục. Vấn đề của bạn được chúng tôi xem xét và trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự năm 2005.

Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014.

Luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011.

Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 về án phí lệ phí tòa án.

2. Nội dung phân tích:

Thứ nhất: Theo Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005 : “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”.

Theo Quyết định 2868/QĐ-NHNN 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước, kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2010, lãi suất cơ bản là 9%/ năm.

Như vậy: Lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/ năm hay lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 :12 = 1,125%/tháng. Trong tình huống của bạn đưa ra, mức lãi suất bạn phải trả hàng tháng là 36 tr/1 tháng cho tổng số tiền vay là 600 triệu đồng, như vậy, mức lãi suất ở đây là 6%/1 tháng, bạn và bên cho vay đã thỏa thuận mức lãi suất vượt quá mức lãi suất cho phép của nhà nước. Tuy với mức lãi suất này, chưa cấu thành tội cho vay nặng lãi nhưng với mức lãi suất cho vay trên trong trường hợp bạn không trả được nợ và phía bên cho vay khởi kiện ra tòa án thì pháp luật chỉ bảo vệ quyền lợi của bên cho vay trong phạm vi lãi suất mà pháp luật cho phép. Phần vượt quá lãi suất sẽ không được pháp luật bảo vệ.

Thứ hai: về nghĩa vụ nộp án phí.

Theo khoản 1, Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự: "Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn nộp án phí sơ thẩm hoặc không phải nộp án phí sơ thẩm". Như vậy, chỉ có các trường hợp miễn nộp án phí sơ thẩm hoặc không phải nộp án phí sơ thẩm được quy định tại Điều 11, Điều 12 của Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 thì mới không phải nộp án phí sơ thẩm

Điều 11 của Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 về Miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí:

"Những trường hợp sau đây được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí:

1. Người khởi kiện vụ án hành chính là thương binh; bố, mẹ liệt sỹ; người có công với cách mạng.

2. Người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật;

3. Người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự;

4. Người khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh;

5. Cá nhân, hộ gia đình thuộc diện nghèo theo quy định của Chính phủ;

6. Người yêu cầu bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm."

Điều 12 Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 về Không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí Tòa án

"Những trường hợp sau đây không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí Tòa án:

1. Người lao động nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã;

2. Ban chấp hành công đoàn cơ sở yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công;

3. Đại diện tập thể người lao động yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công;

4. Cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật;

5. Việc kiểm sát kháng nghị các quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm."

Căn cứ vào quy định trên, đối với tình huống của bạn do bạn không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 11, Điều 12 của pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 nên bạn vẫn phải nộp án phí sơ thẩm.

Thứ ba, về việc có được khấu trừ vào lương hay không ?

Điều 78 Luật thi hành án dân sự quy định việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án như sau:

1. Thu nhập của người phải thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác.

2. Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

a) Theo thỏa thuận của đương sự;

b) Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;

c) Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.

3. Chấp hành viên ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác. Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

4. Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm thực hiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

Theo đó, việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án chỉ được thực hiện khi:

- Bạn có thoả thuận với bên phải thi hành án về việc trừ vào thu nhập.

- Bản án, quyết định thi hành án bạn đang giữ ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.

- Việc thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn.

- Tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.

Như vậy, căn cứ vào những trường hợp trên thì đối với tình huống của bạn đưa ra cơ quan thi hành án không thể khấu trừ vào thu nhập của vợ chồng bạn trừ khi vợ chồng bạn thỏa thuận lựa chọn biện pháp này, hoặc trong chính bản án của Tòa án thể hiện nội dung được trừ vào thu nhập của người phải thi hành án,

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:  1900.6162  hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê