Tôi không có văn bản thỏa thuận vì chồng tôi đã bỏ mẹ con tôi từ hồi con 2 tuổi và không có giấy chứng nhận kết hôn, nay tôi không biết thông tin của chồng tôi ở đâu nên không làm được văn bản thỏa thuận theo quy định của Bộ Luật dân sự. Vậy tôi muốn biết trường hợp của tôi như vậy có được quyền xác định lại dân tộc cho con từ Dân tộc Kinh của cha, sang dân tộc Thái của mẹ không? Tôi mong Luật sư tư vấn sớm để tôi được biết.

Xin chân thành cảm ơn Công ty Luật Minh Khuê!

Người gửi: P.Y

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn dân sự  của công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn lấy họ của con theo họ của mẹ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho công ty luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cho chúng tôi xin được tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005 

Nghị định 158/2005/NĐ-CP  của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch

Nghị định 06/2012/NĐ-CP của Chính phủ  về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực

Nội dung phân tích:

Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 28 Bộ luật Dân sự thì người đã thành niên, cha đẻ và mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong trường hợp xác định lại dân tộc theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ, nếu cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau. Theo quy định này có thể hiểu điều kiện để có thể xem xét giải quyết việc xác định lại dân tộc cho một người là: 
- Người đó có cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau; 
- Người đó đã từng được xác định dân tộc lần đầu theo dân tộc của cha đẻ hoặc dân tộc của mẹ đẻ; 
- Nếu là người đã thành niên, thì người đó có quyền trực tiếp yêu cầu xác định lại dân tộc. Nếu là người chưa thành niên thì việc xác định lại dân tộc được thực hiện theo yêu cầu thống nhất của cha đẻ và mẹ đẻ hoặc của người giám hộ. Tuy nhiên, nếu đó là người chưa thành niên nhưng đã đủ 15 tuổi trở lên thì việc xác định lại dân tộc còn phải được sự đồng ý của chính người đó.

Khoản 1 Điều 38 Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định: 

"1. Người yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch phải nộp tờ khai (theo mẫu quy định), xuất trình bản chính Giấy khai sinh của người cần thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bồ sung hộ tịch và các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch.

Đối với trường hợp xác định lại giới tính, thì văn bản kết luận của tổ chức y tế đã tiến hành can thiệp để xác định lại giới tính là căn cứ cho việc xác định lại giới tính.

Việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch cho người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự được thực hiện theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người giám hộ.

Đối với việc thay đổi họ, tên cho người từ đủ 9 tuổi trở lên và xác định lại dân tộc cho người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi trở lên, thì phải có sự đồng ý của người đó."

 

Khoản 10 Điều 1 Nghị định 06/2012 NĐ-CP của chính phủ quy định:

10. Khoản 1 và khoản 2 Điều 38 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“1. Người yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định), xuất trình bản chính Giấy khai sinh của người cần thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch và các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch.

Đối với trường hợp xác định lại giới tính, thì phải nộp Giấy chứng nhận y tế do Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính theo quy định của Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ về xác định lại giới tính.

Việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch cho người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự được thực hiện theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người giám hộ.

Đối với việc thay đổi họ, tên, cho người từ đủ 9 tuổi trở lên và xác định lại dân tộc cho người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi trở lên, thì phải có ý kiến đồng ý của người đó thể hiện trong Tờ khai; trường hợp xác định lại dân tộc cho con dưới 15 tuổi phải nộp văn bản thỏa thuận của cha mẹ về việc xác định lại dân tộc cho con.

Như vậy, bạn và chồng chưa có giấy đăng kí kết hôn nên con của bạn khi sinh ra sẽ được gọi là con ngoài giá thú có thể chia ra làm hai trường hợp:

Trường hợp 1: tại thời điểm làm giấy khai sinh cho con chồng bạn thừa nhận đứa con thì đương nhiên trong giấy khai sinh sẽ xác nhận con bạn có cả cha và mẹ thì việc chuyển dân tộc cho cho cần phải có văn bản thỏa thuận của cả cha và mẹ. Nên trong trường hợp này bạn không  thể xác định lại dân tộc cho con nếu không có văn bản thỏa thuận.

Trường hợp 2: tại thời điểm làm giấy khai sinh cho con chồng bạn không có mặt hoặc không thừa nhận đứa con thì đương nhiên trong giấy khai sinh sẽ xác nhận con bạn chỉ có mẹ thì việc chuyển dân tộc cho con chỉ cần sự đồng ý của mẹ. Nên trong trường hợp này bạn có thể xác định lại dân tộc cho con.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự