Chú thứ 5 lấy vợ và ở lại ngôi nhà của ông bà tôi và sử dụng đất ở của ông bà tôi. Ông bà tôi trước khi qua đời không để lại di chúc gì cho con cháu. Bố tôi và các chú tôi chưa bao giờ đồng ý nhường quyền sử dụng đất của ông bà cho thành viên nào trong gia đình và ngoài gia đình. Chú thứ 5 và người vợ của chú không có con, năm 2009 chú tôi bị bệnh qua đời. Năm 2011 thím tôi (vợ của chú thứ 5) đi lấy chồng. Hiện nay gia đình bố tôi và các chú tôi có yêu cầu Thím tôi trả lại đất thổ cư của ông bà nội tôi để con cháu và thế hệ sau tiện việc thờ cúng ông bà tổ tiên. Thím tôi không đồng ý.

Việc yêu cầu trên của gia đình tôi đúng hay sai, quyền lợi của các bên gồm gia đình con cháu chúng tôi và người thím (vợ chú thứ 5) của tôi được phân định như thế nào, kính mong đoàn luật sư Minh Khuê giải đáp giúp tôi? Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: hana...

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật - công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn luật đất đai gọi 1900 6162

Luật sư tư vấn dân sự gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến thư mục tư vấn của công ty Luật Minh Khuê. Đối với trường hợp của bạn, chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Dân sự năm 2005.

Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP hưướng dẫn áp dụng pháp luật giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình.

Nội dung trả lời:

Sau khi ông bà bạn mất, gia đình bạn muốn dùng ngôi nhà và mảnh đất của ông bà bạn để lại làm nơi thờ cúng tổ tiên nhưng thím bạn (người đang ở trên mảnh đất đó) không đồng ý trả đất. Như vậy, việc gia đình bạn đòi lại phần di sản đó là hoàn toàn có cơ sở.

Điều 645 Bộ luật Dân sự có quy định:

"Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế 

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

Như vậy, sau thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản chết), người thừa kế không còn quyền khởi kiện thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác; và sau thời hạn là 3 năm, cá nhân, tổ chức không còn quyền khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại.

Tuy nhiên, theo khoản 2.4 Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP có quy định về việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế:

"2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Và Điều 680 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định về việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác như sau:

"Điều 680. Việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác  

1. Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.

2. Trong trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Toà án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.

3. Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản."

Do đó, trong trường hợp bạn đưa ra, thím bạn vẫn là vợ của chú bạn tại thời điểm chú bạn chết sau đó mới kết hôn với người khác. Như vậy, thím bạn vẫn được thừa kế di sản của chú bạn và sẽ là đồng thừa kế trong khối tài sản chung mà ông bà bạn để lại.

Như vậy, bạn có thể chọn các cách sau để đảm bảo quyền lợi của các bên:

- Cách 1: Họp mặt những đồng thừa kế để thỏa thuận các nội dung như: Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc; Cách thức phân chia di sản (Điều 681 Bộ luật Dân sự). Các bên có thể cùng nhau đến tổ chức công chứng trên địa bàn nơi có bất động sản để yêu cầu chia di sản thừa kế do ông bà bạn để lại. Tuy nhiên, để thực hiện theo cách này thì phải có sự đồng thuận của tất cả các đồng thừa kế.

- Cách 2: Khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung: Để khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung thì các đồng thừa kế phải có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc thừa nhận di sản do ông bà bạn để lại chưa chia. Khi có văn bản xác nhận có chữ ký của tất cả các đồng thừa kế thì di sản do ông bà bạn để lại chuyển thành tài sản chung của các thừa kế và Tòa án sẽ áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết.

Trân trọng ./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ