1. Xây nhà diện tích 30 m2 có phải xin giấy phép xây dựng ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em định xây nhà diện tích 30m vuông ở Hoàng Mai có phải xin phép xây dựng không ?
Em xin chân thành cảm ơn.
Người gửi: B.V.T

Xây nhà diện tích 30 m2 có phải xin giấy phép xây dựng ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi. Thắc mắc của bạn sẽ được giải đáp như sau:

Khoản 1, 2 Điều 89 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 có quy định về đối tượng phải có giấy phép xây dựng như sau:

"Điều 89. Đối tượngcác loại giấy phép xây dựng

1. Trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Công trình được miễn giấy phép xây dựng gồm:

a) Công trình bí mật nhà nước, công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp và công trình nằm trên địa bàn của hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên;

b) Công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư;

c) Công trình xây dựng tạm phục vụ thi công xây dựng công trình chính;

d) Công trình xây dựng theo tuyến ngoài đô thị nhưng phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận về hướng tuyến công trình;

đ) Công trình xây dựng thuộc dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được thẩm định thiết kế xây dựng theo quy định của Luật này;

e) Nhà ở thuộc dự án phát triển đô thị, dự án phát triển nhà ở có quy mô dưới 7 tầng và tổng diện tích sàn dưới 500 m2 có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

g) Công trình sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong công trình không làm thay đổi kết cấu chịu lực, không làm thay đổi công năng sử dụng, không làm ảnh hưởng tới môi trường, an toàn công trình;

h) Công trình sửa chữa, cải tạo làm thay đổi kiến trúc mặt ngoài không tiếp giáp với đường trong đô thị có yêu cầu về quản lý kiến trúc;

i) Công trình hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng và ở khu vực chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn được duyệt;

k) Công trình xây dựng ở nông thôn thuộc khu vực chưa có quy hoạch phát triển đô thị và quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt; nhà ở riêng lẻ ở nông thôn, trừ nhà ở riêng lẻ xây dựng trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử - văn hóa;

l) Chủ đầu tư xây dựng công trình được miễn giấy phép xây dựng theo quy định tại các điểm b, d, đ và i khoản này có trách nhiệm thông báo thời điểm khởi công xây dựng kèm theo hồ sơ thiết kế xây dựng đến cơ quan quản lý xây dựng tại địa phương để theo dõi, lưu hồ sơ.

..."

Như vậy nếu như trường hợp của bạn thuộc khoản 2 Điều 89 nêu trên thì bạn được miễn GPXD, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 thì bạn sẽ phải làm thủ tục xin cấp GPXD trước khi khởi công xây dựng theo quy định của pháp luật.

Trên đây là những giải đáp, tư vấn từ phía Công ty Luật Minh Khuê cho câu hỏi của Quý khách hàng. Nếu còn có điều gì thắc mắc, mời Quý khách hàng vui lòng gửi thư theo địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc gọi điện trực tiếp đến tổng đài 1900.6162 để được giải đáp nhanh chóng và chính xác nhất.

Trân trọng./.

2. Đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên quỹ đất 20% ?

Xin chào luật sư, mong luật sư tư vấn cho tôi vấn đề sau: Công ty tôi có dự định xây chung cư, tuy nhiên trong Luật nhà ở và Nghị định 99, Nghị định 188, tôi thấy có nội dung: Chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị đó có trách nhiệm trực tiếp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên quỹ đất 20% (trừ trường hợp Nhà nước thu hồi quỹ đất 20% để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội bằng nguồn vốn ngân sách và trường hợp chủ đầu tư không có nhu cầu tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xã hội thì chuyển giao quỹ đất này cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án). Khoản 20% này có thể chuyển đổi thành tiền hay có thể làm khác được không?
Vì xây dựng nhà ở thương mại mà có khu nhà ở xã hội thì rất khó cho công ty.

Đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên quỹ đất 20% ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Vấn đề bạn hỏi được quy định tại Nghị định 100/2015/NĐ-CP nghị định về phát triển nhà ở xã hội như sau:

"Điều 5. Quỹ đất để phát triển nhà ở xã hội đối với các dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị

1. Chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị, không phân biệt quy mô diện tích đất (bao gồm cả dự án đầu tư xây dựng theo hình thức xây dựng - chuyển giao (BT) và hình thức xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) tại các đô thị từ loại 3 trở lên và khu vực quy hoạch là đô thị từ loại 3 trở lên phải dành 20% tổng diện tích đất ở trong các đồ án quy hoạch chi tiết hoặc tổng mặt bằng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật dành để xây dựng nhà ở xã hội.

Chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị đó có trách nhiệm trực tiếp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên quỹ đất 20% (trừ trường hợp Nhà nước thu hồi quỹ đất 20% để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội bằng nguồn vốn ngân sách và trường hợp chủ đầu tư không có nhu cầu tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xã hội thì chuyển giao quỹ đất này cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án).

2. Trường hợp dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị có quy mô sử dụng đất dưới 10 ha thì chủ đầu tư dự án được lựa chọn hình thức hoặc dành quỹ đất 20% để xây dựng nhà ở xã hội quy định tại Khoản 1 Điều này, hoặc chuyển giao quỹ nhà ở tương đương với giá trị quỹ đất 20% tính theo giá đất mà chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước tại thời điểm chuyển giao để sử dụng làm nhà ở xã hội, hoặc nộp bằng tiền tương đương giá trị quỹ đất 20% theo giá đất mà chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước nhằm bổ sung vào ngân sách địa phương dành để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên phạm vi địa bàn.

3. Đối với trường hợp bố trí quỹ đất 20% để xây dựng nhà ở xã hội không phù hợp với quy hoạch của địa phương hoặc có bố trí nhưng không đủ quỹ đất 20% để xây dựng nhà ở xã hội quy định tại Khoản 1 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận.

4. Đối với dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị đã lựa chọn chủ đầu tư trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành, nhưng chưa bố trí quỹ đất 20% dành để xây dựng nhà ở xã hội mà sau thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành, dự án đó bị thu hồi theo quy định của pháp luật để giao cho chủ đầu tư khác thì chủ đầu tư dự án đó có trách nhiệm tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch để bố trí bổ sung quỹ đất 20% để xây dựng nhà ở xã hội theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.

5. Trường hợp Nhà nước sử dụng quỹ đất 20% để xây dựng nhà ở xã hội bằng vốn ngân sách nhà nước thì chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị có trách nhiệm đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước khi bàn giao quỹ đất này cho Nhà nước.

Khi bàn giao quỹ đất 20% để xây dựng nhà ở xã hội cho Nhà nước thì chủ đầu tư dự án được hoàn trả (hoặc được khấu trừ vào nghĩa vụ tài chính mà chủ đầu tư phải nộp ngân sách nhà nước) các khoản chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng, chi phí đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các khoản chi phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật mà chủ đầu tư đã thực hiện đối với quỹ đất 20% phải bàn giao. Số tiền còn lại chưa được hoàn trả hoặc khấu trừ (nếu có) được tính vào chi phí đầu tư xây dựng nhà ở xã hội do Nhà nước đầu tư.

6. Trường hợp Nhà nước trực tiếp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội theo dự án bằng nguồn vốn ngân sách trung ương thì việc bố trí quỹ đất thực hiện theo quy định như sau:

a) Đối với dự án xây dựng nhà ở xã hội được bố trí nguồn vốn ngân sách trung ương từ 50% tổng mức đầu tư của dự án trở lên thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng để xem xét, quyết định việc lựa chọn quỹ đất để triển khai thực hiện dự án;

b) Đối với dự án xây dựng nhà ở xã hội được bố trí nguồn vốn ngân sách trung ương dưới 50% tổng mức đầu tư của dự án thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án xem xét, quyết định việc lựa chọn quỹ đất để triển khai thực hiện dự án."

Theo đó, với dự án dưới 10 ha, không bắt buộc chủ đầu tư dành 20% quỹ đất cho nhà ở xã hội mà thay vào đó, được lựa chọn chuyển giao quỹ nhà ở tương đương với giá trị quỹ đất 20% hoặc nộp bằng tiền tương đương vào ngân sách địa phương để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên địa bàn. Còn các dự án trên 10 ha vẫn phải dành quỹ đất 20% cho phát triển nhà ở xã hội. Như vậy nếu diện tích xây dựng của bạn dưới 10ha thì bạn có thể nộp bằng tiền còn nếu lớn hơn 10ha thì bạn bắt buộc phải dành 20% quỹ đất cho nhà ở xã hội.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. Tư vấn thủ tục xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất khi xây dựng nhà yến trên đất nông nghiệp ?

Thưa luật sư, tôi có câu hỏi như sau: tôi có thửa đất nông nghiệp diện tích khoảng 400 m2. Tôi muốn xây dựng nhà nuôi yến được không. Nếu được thì xin phép như thế nào ?
Rất mong được luật sư trả lời.
Người gửi : Hà Thanh Dũng

Tư vấn thủ tục xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất khi xây dựng nhà yến trên đất nông nghiệp ?

Luật sư trả lời:

Bạn muốn chuyển từ đất nông nghiệp sang đất dùng để xây dựng nhà yến, trường hợp này bạn phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền, điều 57 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

"Điều 57. Chuyển mục đích sử dụng đất

1. Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:

a) Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;

b) Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm;

c) Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp;

d) Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;

đ) Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;

e) Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;

g) Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.

2. Khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; chế độ sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được áp dụng theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng."

Điều 69 Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của luật đất đai quy định trình tự, thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất như sau:

"Điều 69. Trình tự, thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

1. Người sử dụng đất nộp đơn xin phép chuyển mục đích sử dụng đất kèm theo Giấy chứng nhận đến cơ quan tài nguyên và môi trường.

2. Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ; xác minh thực địa, thẩm định nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất; hướng dẫn người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; chỉ đạo cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính.

Đối với trường hợp nhà đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người đang sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thì thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng thời với thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

3. Người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định."

Hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất được quy định tại điều 6 Thông tư 30/2014/TT-BTNMT quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất:

"Điều 6. Hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất

1. Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hồ sơ gồm:

a) Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

2. Hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất gồm:

a) Các giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều này;

b) Biên bản xác minh thực địa;

c) Bản sao bản thuyết minh dự án đầu tư đối với dự án không phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, dự án không phải cấp giấy chứng nhận đầu tư; bản sao báo cáo kinh tế - kỹ thuật của tổ chức sử dụng đất đối với trường hợp không phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình; văn bản thẩm định nhu cầu sử dụng đất; thẩm định điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại Khoản 3 Điều 58 của Luật Đất đai và Điều 14 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đã lập khi cấp giấy chứng nhận đầu tư hoặc thẩm định dự án đầu tư hoặc xét duyệt dự án đối với dự án phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, phải cấp giấy chứng nhận đầu tư;

d) Văn bản thẩm định nhu cầu sử dụng đất, thẩm định điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại Khoản 3 Điều 58 của Luật Đất đai và Điều 14 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP đối với dự án không phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, không phải cấp giấy chứng nhận đầu tư và trường hợp không phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân xin chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải bổ sung văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 59 của Luật Đất đai;

đ) Trích lục bản đồ địa chính thửa đất hoặc trích đo địa chính thửa đất;

e) Tờ trình kèm theo dự thảo quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư này."

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật đất đai về chuyển mục đích sử dụng đất trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

4. Nộp thuể trước bạ và thuế xây dựng khi xây nhà ở ?

Xin hỏi luật sư một câu hỏi như sau: Tôi ở tỉnh Gia Lai, có mảnh trong hẽm đất diện tích 208m2 bìa đỏ do UBND thành phố cấp 3/2014, trong đó có 100m2 đất ở đã chuyển mục đích sử dụng tháng 11/2015. Tôi xây một căn nhà 1 trệt, 1 lầu, 1 lửng diện tích 144m2 sàn (đã có giấy phép xây dựng do ubnd thành phố cấp 2/2016). Đơn vị thi công tôi hợp đồng không có tư cách pháp nhân (có hợp đồng xây dựng nhưng không có thỏa thuận gì về thuế xây dựng).
Tôi làm căn nhà trên tiền vật liệu hết 400 triệu (có bảng kê), tiền nhân công hết 122 triệu (có hợp đồng), tổng cộng tiền xây nhà: 520 triệu đồng. nhà trong hẽm mua vật tư lẻ không có hóa đơn. Cơ quan thuế không tính trên giá thực tế mà căn cứ trên đơn giá do UBND tỉnh ký. tiền nhân công: 144m2 x 5.863.000 đ/m2 x 20% = 168.854.400 đ tiền vật liệu: 144m2 x 5.863.000 đ/m2 x 80% = 675.417.600 đ tổng công tiền xây nhà: 844.272.000 đ cao hơn gấp 1,62 lần giá xây nhà thực tế của tôi.
Tôi xin hỏi luật sư: tính như trên có hợp lí không. Thuế Xây dựng chủ nhà hay đơn vị thi công nộp? Thuế xây dựng =7%x168.854.400=11.819.808đ ngoài thuế xây dựng khi đăng kí làm sở hữu nhà tôi còn phải nộp các loại thuế và phí gì, có phải cung cấp hóa đơn vật liệu trị giá 675 triệu nữa không, vì thuế đã tính như trên rồi cung cấp hóa đơn để làm gì. Theo công văn số: 941/btc-tct ngày 19 tháng 01 năm 2011của btc. Tôi có phải nộp thuế trước bạ khi làm sở hữu nhà không?
Tôi xin cám ơn luật sư!

Nộp thuể trước bạ và thuế xây dựng khi xây nhà ở ?

Tư vấn luật tư vấn pháp luật Thuế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, theo dữ liệu mà bạn cung cấp và quy định chi tiết tại Hướng dẫn 170/HD-SXD chi phí nhân công khảo sát thực tế cơ sở lập chi phí đầu tư xây dựng Gia Lai; thì mức tính thuế mà cơ quan áp dụng thu đối với trường hợp của bạn không phù hợp với quy định đã nêu. Vì vậy:

Đơn giá nhân công trong dự toán xây dựng công trình được xác định theo công thức sau:

Nộp thuể trước bạ và thuế xây dựng khi xây nhà ở ?

Trong đó:

+ GNC: Đơn giá nhân công tính cho một ngày công trực tiếp sản xuất xây dựng.

+ LNC: Mức lương đầu vào theo công bố tại Hướng dẫn này để xác định đơn giá nhân công cho một ngày công trực tiếp sản xuất xây dựng. Mức lương này đã bao gồm các khoản lương phụ, các khoản phụ cấp lưu động, phụ cấp khu vực, phụ cấp không ổn định sản xuất và đã tính đến các yếu tố thị trường.

+ HCB: Hệ số lương theo cấp bậc của nhân công trực tiếp sản xuất xây dựng (theo phụ lục 2 của Thông tư số 01/2015/TT-BXD).

+ t: 26 ngày làm việc trong tháng.

- Đối với nhân công bậc lẻ theo định mức, sử dụng phương pháp nội suy để xác định Hệ số lương.

Do đó, cách tính thuế và mức tính thuế như trên là thiếu căn cứ và không đúng.

Thứ hai, việc xác định nghĩa vụ nộp thuế xây dựng. Trường hợp của bạn tuy có hợp đồng xây dựng, nhưng lại không có thỏa thuận gì về thuế xây dựng, pháp luật có quy định như sau:

Theo nội dung của Công văn 3700/TCT-DNK thuế suất thuế GTGT về việc thu thuế đối với hoạt động xây dựng nhà ở tư nhân, thì :" Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản thi hành Luật thì: Đối tượng nộp thuế GTGT và thuế TNDN là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.


Do đó, các tổ chức, cá nhân có hoạt động xây dựng là đối tượng phải đăng ký, kê khai nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp với cơ quan thuế địa phương nơi đăng ký kinh doanh hoặc nơi thực hiện xây dựng công trình, nhưng hiện nay nhiều nhà thầu xây dựng khi nhận thầu xây dựng (nhất là nhà ở của người dân) không thực hiện kê khai nộp thuế theo đúng Luật;"

Như vậy, nếu đơn vị nhận khoán gọn công trình( bất kể cá nhân hay tổ chức, doanh nghiệp) thì họ sẽ phải kê khai nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp trên toàn bộ giá trị công trình. Nếu bạn là chủ hộ gia đình và tự mua vật tư xây dựng và tự thuê công nhân xây dựng lẻ hoặc có thuê thầu xây dựng nhưng không cung cấp được hợp đồng và các căn cứ chứng minh đã thuê thầu xây dựng thì bạn là người phải nộp thuế. Nếu bạn tự mua vật tư xây dựng thì cơ quan thuế không tính thuế vật tư của bạn và trong trường hợp này bạn sẽ là người chịu thuế.

Về các loại thuế khi đăng ký làm sở hữu nhà bạn còn phải nộp các loại phí sau (ngoài phí xây dựng nêu trên), cụ thể như sau: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ. Bởi, lệ phí trước bạ là khoản tiền quy định phải nộp khi làm thủ tục giấy tờ đối với các loại tài sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu và/hoặc sử dụng, cũng như khi thay đổi chủ sở hữu và/hoặc sử dụng tài sản nói trên. Hơn nữa, theo Công văn 941/BTC-TCT của Bộ Tài chính về việc lệ phí trước bạ đối với nhà tự xây và giá tính lệ phí hì trong trường hợp của bạn vẫn phải nộp lệ phí trước bạ đối với việc đăng ký sở hữu nhà ở tư nhân.

>> Bài viết tham khảo thêm: Các loại thuế, phí phải nộp khi làm sổ đỏ ?

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về "Nộp thuể trước bạ và thuế xây dựng khi xây nhà ở ?" . Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

5. Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Nói về vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và luận giải ba vấn đề có tính thời sự, song cũng rất phức tạp, đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu. Ba vấn đề đó là:

1) Vấn đề thiết kế mô hình cụ thể Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2) Vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước. 3) Vấn đề tạo lập những điều kiện, cơ sở cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng là bước đột phá trong đổi mới tư duy chính trị của Đảng ta, đánh một dấu mốc quan trọng trong đổi mới hệ thống chính trị nói chung, đổi mới Nhà nước ở nước ta nói riêng.

Khi chủ nghĩa xã hội bước vào cải tổ, cải cách, đổi mới, một số nhà lý luận, chính trị gia xã hội chủ nghĩa đã đề xuất xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền. Đề xuất này đã làm nảy sinh những ý kiến chỉ trích, phản ứng từ không ít người. Khi đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản, một số người đã cho rằng, xây dựng nhà nước pháp quyền là từ bỏ chủ nghĩa xã hội. Có người lại coi việc xây dựng nhà nước pháp quyền là thừa nhận sự phân lập các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, mà quyền lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là thống nhất, không phân chia, và do vậy, không phù hợp. Cũng có người đặt vấn đề, khi đề cập tới nhà nước kiểu mới, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin không hề nói tới nhà nước pháp quyền và do vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền trong chủ nghĩa xã hội là không theo quan điểm của các nhà kinh điển, v.v.. Từ một phía khác, có ý kiến lại cho rằng, trong nhà nước pháp quyền, mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, đó là nhà nước của dân, do dân, vì dân và do vậy, không cần phải phân biệt nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa nữa.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Sự xuất hiện những ý kiến như vậy trong giai đoạn đầu cải tổ, cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa cũng là điều dễ hiểu. Một mặt, vấn đề nhà nước pháp quyền tuy không phải là mới, nhưng phải nói rằng, trước đây, ở các nước xã hội chủ nghĩa, vấn đề này chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đúng mức. Sự chuẩn bị về mặt lý luận để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mới chỉ là bước đầu, chưa có sự chín muồi cần thiết, những ý kiến đề xuất mô hình nhà nước pháp quyền vẫn chỉ trên sách báo. Mặt khác, đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị đòi hỏi cũng phải có thời gian. Bởi lẽ, đây là lĩnh vực không chỉ mang tính “nhạy cảm cao”, mà còn là lĩnh vực mà sự thay đổi không phải “một sớm một chiều”. Đó là chưa nói đến tư duy giáo điều còn ảnh hưởng không nhỏ đối với cả giới nghiên cứu lý luận lẫn những chính khách ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Trong học thuyết chuyên chính vô sản, đúng là C.Mác và Ph.Ăngghen chưa sử dụng thuật ngữ nhà nước pháp quyền. Nhưng những tư tưởng cốt lõi về nhà nước pháp quyền lại được các nhà kinh điển đề cập sâu sắc trong các chủ trương xây dựng nhà nước kiểu mới, chế độ dân chủ mới, chế độ dân chủ vô sản. Đó là chủ trương xây dựng nhà nước hợp hiến, hợp pháp; là nhà nước dân chủ cao nhất, triệt để nhất, dân chủ “do nhân dân tự quy định”; là bước chuyển từ xã hội thần dân sang xã hội công dân, từ “nhân dân của nhà nước” sang “nhà nước của nhân dân”. Đó là chế độ dân chủ xuất phát từ con người và pháp luật cũng vì con người. Đó là nhà nước đảm bảo cho “tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Nhà nước đó xây dựng và phát triển một xã hội có khả năng tạo ra những điều kiện cơ bản để “giải phóng cá nhân” theo phương châm “xã hội sẽ không thể giải phóng cho mình được, nếu không giải phóng mỗi cá nhân riêng biệt”… Những tư tưởng cốt lõi đó của C.Mác và Ph.Ăngghen đã được V.I.Lênin vận dụng và phát triển trong sự phân tích, đánh giá nhà nước tư sản, chế độ cộng hoà dân chủ tư sản, cũng như trong thực tiễn lãnh đạo nhân dân Nga xây dựng nền pháp luật kiểu mới, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Ở nước ta, tư tưởng nhà nước pháp quyền cũng đã được thể hiện rất đậm nét ở Hồ Chí Minh, khi Người lãnh đạo nhân dân ta xây dựng nhà nước cách mạng. Đó là tư tưởng về xây dựng một nhà nước dân chủ, một chế độ dân chủ thực sự theo phương châm “bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(1). Chính phủ là chính phủ của nhân dân, Chính phủ phải hứa với dân: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(2). Đó là một nhà nước chịu sự kiểm soát của nhân dân, “tất cả các cơ quan nhà nước đều phải dựa vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe và chịu sự kiểm soát của nhân dân” (Điều 6, Hiến pháp 1959). Trong quan hệ với nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định, Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Người viết: “Chế độ ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ”(3). Tư tưởng nhà nước pháp quyền của Người còn thể hiện trong quyết tâm xây dựng nhà nước hợp hiến, hợp pháp ngay trong tình thế cách mạng đang “nghìn cân treo sợi tóc”. Chỉ một ngày sau khi đọc “Tuyên ngôn độc lập”, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ lâm thời xác lập nền tảng dân chủ và pháp quyền cho chế độ nhà nước cách mạng, đó là tổ chức Tổng tuyển cử và xây dựng Hiến pháp dân chủ. Người nói: “Trước đây chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v.”(4).

Tuy nhiên, có thể nói, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, như chiến tranh, nội chiến, quan niệm về chủ nghĩa xã hội một cách giản đơn và có phần cực đoan khi đối lập một cách trừu tượng nhà nước tư sản với nhà nước xã hội chủ nghĩa, đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản, coi mô hình nhà nước pháp quyền là mang tính tư sản…, nên ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta, việc nghiên cứu và vận dụng một cách có ý thức (chủ động, tự giác) mô hình nhà nước pháp quyền có nhiều hạn chế, nếu không muốn nói là có thời kỳ bị lãng quên. Đó là một trong những nguyên nhân khiến dân chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa trở thành “có vấn đề”. Dân chủ mang nặng tính hình thức; tình trạng độc đoán, chuyên quyền, quan liêu có xu hướng phát triển đã làm suy yếu nhà nước. Tổ chức bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả. Nhà nước quản lý, điều hành xã hội chủ yếu bằng mệnh lệnh, chỉ thị, nghị quyết, bằng đạo lý, trong khi pháp luật thì bị coi nhẹ.

Chính vì vậy, vấn đề dân chủ đã được đặt ra một cách bức bách ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung, ở nước ta nói riêng. Trong quá trình đổi mới tư duy về chính trị, về chủ nghĩa xã hội, nhận thức về nhà nước pháp quyền của Đảng ta ngày càng đầy đủ hơn, rõ ràng và cụ thể hơn; quyết tâm chính trị là xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới hình thức nhà nước pháp quyền cũng ngày càng cao hơn.

Trong Văn kiện Đại hội VI, quan điểm, chủ trương đổi mới Nhà nước đã manh nha một số nội dung về Nhà nước pháp quyền. Đó là sự khẳng định “quản lý nhà nước bằng pháp luật, chứ không phải bằng đạo lý”; phải quan tâm xây dựng pháp luật; từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật để bảo đảm cho bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật(5). Đến Đại VII, quan điểm đổi mới Nhà nước đã được bổ sung thêm nội dung: “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó”(6).

Như vậy, có thể nói, qua hai kỳ Đại hội của thời kỳ đổi mới, tư duy về đổi mới Nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng đã có những bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, chỉ đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994), chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mới được Đảng ta chính thức khẳng định và thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” cũng mới lần đầu tiên được sử dụng trong văn kiện của Đảng.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường ở nước ta là việc làm mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc phải vừa làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm. Điều này đòi hỏi chúng ta cần phải thận trọng trong quyết định, cũng như trong tiến hành thực hiện. Trong Văn kiện Đại hội VIII (1996), Đảng ta coi xây dựng Nhà nước pháp quyền như một trong năm quan điểm cần quán triệt trong quá trình tiếp tục cải cách, đổi mới Nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đến Đại hội IX, qua tổng kết những thành tựu nghiên cứu lý luận, cũng như thực tiễn từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền, Đảng ta đã coi “xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng” là một nhiệm vụ mang tính chiến lược và xuyên suốt trong quá trình “đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế”(7). Trong Văn kiện Đại hội X, khi tổng kết lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới, Đảng ta không những tiếp tục khẳng định chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền, mà còn ghi nhận điều chúng ta “có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”(8) là một đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng.

Khẳng định xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình Nhà nước pháp quyền là một bước đột phá trong tư duy và thực tiễn xây dựng Nhà nước trong thời kỳ đổi mới của Đảng ta. Đó là cơ sở chính trị cho việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu về nhà nước pháp quyền, đổi mới một cách căn bản, có hệ thống tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là ngày một, ngày hai chúng ta có thể xác lập ngay được Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong lý luận và cả trong thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải tiếp tục giải quyết. Đó là:

1) Vấn đề thiết kế mô hình cụ thể Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Mô hình nhà nước pháp quyền đã được nhân loại thử nghiệm, chọn lọc qua nhiều thế kỷ và đang trở thành hình thức phổ biến trong thế giới đương đại. Tuy nhiên, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam không có nghĩa là “bê nguyên” những hình thức ấy. Vả lại, ngay cả ở các nước phương Tây, nhà nước pháp quyền cũng không hoàn toàn giống nhau. Ở mỗi quốc gia, nhà nước pháp quyền cũng có những nét độc đáo riêng, tuỳ thuộc vào các đặc điểm, truyền thống dân tộc cũng như điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá. Hơn nữa, Nhà nước pháp quyền mà nhân dân ta đang xây dựng là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước đó, về bản chất, là đối lập với nhà nước pháp quyền tư sản. Do vậy, về nội dung pháp luật, về bản chất của pháp luật chắc chắn cũng khác với nhà nước pháp quyền tư sản. Còn về hình thức có thể có những nét tương đồng mà qua nghiên cứu, chọn lọc, cải biến, chúng ta có thể kế thừa mặt này, mặt kia của mô hình này hay mô hình khác. Tuy nhiên, đây cũng không phải là điều đơn giản, thậm chí còn là khá phức tạp và rất nhạy cảm về chính trị.

Chẳng hạn, việc có vận dụng hay không vận dụng, vận dụng đến mức độ nào thuyết phân lập các quyền của phương Tây. Ngay cả ở các nước tư bản, mức độ vận dụng học thuyết này cũng không giống nhau. Điều đó không phải do có sự khác nhau về chế độ chính trị, mà bắt nguồn từ nhiều lý do khác, trong đó có những quan niệm khác nhau về tác dụng của sự phân quyền. Mục đích của việc phân quyền là để tránh sự độc đoán, chuyên quyền, lạm dụng quyền lực. Đó là mặt tích cực. Nhưng việc phân quyền giữa các cơ quan thực hiện quyền lực cũng có những mặt trái của nó. Do vậy, ở các nước phương Tây cũng xuất hiện quan điểm cho rằng, không nên cường điệu ý nghĩa mang tính chất lý thuyết của thuyết phân quyền. Hơn nữa, thuyết phân quyền của phương Tây cũng không chỉ thuần tuý ở khía cạnh kỹ thuật tổ chức – pháp lý, mà còn là đặc trưng xã hội – chính trị của nhà nước pháp quyền tư sản. Hay, nói cách khác, không chỉ là phân lập các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, mà còn là việc phân chia quyền lực, phân bố quyền lực giữa các giai cấp và các nhóm xã hội, các lực lượng xã hội. Xuất phát từ những lý do đó, Đảng ta đặt vấn đề, trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chúng ta không áp dụng nguyên xi thuyết phân quyền của phương Tây, mà “có sự phân công rành mạch giữa ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và có sự phối hợp giữa các cơ quan thực hiện những quyền đó”. Vấn đề đặt ra là làm sao tạo lập được những cơ chế, thiết chế phù hợp đảm bảo sự phân công rành mạch ba quyền và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan thực hiện quyền lực. Thiếu những cái đó khó tránh khỏi tình trạng như đã và đang diễn ra ở những mức độ nhất định: lấn quyền, lạm quyền, vượt thẩm quyền hoặc bỏ sót quyền, chưa sử dụng hết quyền hạn của mình,…

Với nước ta, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có chức năng lập pháp, có quyền quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước và có quyền giám sát tối cao hoạt động của các cơ quan nhà nước khác. Trong hệ thống các cơ quan quyền lực của Nhà nước ta, Quốc hội có vị trí, vai trò rất lớn theo luật định. Quốc hội “được làm” nhưng có “làm được” hay không – đó là vấn đề không nhỏ. Điều đó liên quan trực tiếp tới thiết chế tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội. Ở nước ta, trong quá trình đổi mới, cải cách Nhà nước nói chung, Quốc hội nói riêng, hiện cũng đang đặt ra một số vấn đề: Quốc hội ta là quốc hội quốc dân hay quốc hội nhân dân; hoạt động thường xuyên hay định kỳ, Quốc hội “tham luận” hay “tranh luận”, Quốc hội chuyên nghiệp hay nghiệp dư, tỷ lệ đại biểu chuyên trách và đại biểu nghiệp dư, cơ cấu và chất lượng đại biểu; quan hệ giữa Quốc hội với các cơ quan nhà nước khác, v.v.. Xét về mặt lý thuyết, Quốc hội ta là quốc hội quốc dân, đại biểu cho cử tri, cho nhân dân cả nước. Nhưng vì nhiều lý do nên trên thực tế, điều đó chưa hẳn đã là như vậy. Chức năng đại diện của Quốc hội ta vẫn thiên về đại biểu cho các địa phương, đại diện cho cử tri ở đơn vị bầu cử, chứ chưa hẳn là cử tri cả nước. Điều này có liên quan đến tổ chức bầu cử (bầu cử gắn với địa phương, và do vậy, cách giải quyết như thế nào vẫn là vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu. Quốc hội mang tính nghiệp dư hay tính chuyên nghiệp hoá? Xung quanh vấn đề này hiện vẫn còn có những ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, nếu Quốc hội hoạt động thường xuyên, mang tính chuyên nghiệp hoá thì các đại biểu mất đi mối liên hệ trực tiếp với cử tri, với cơ sở. Dĩ nhiên, Quốc hội hoạt động thường xuyên, mang tính chuyên nghiệp hoá sẽ xuất hiện những trở ngại đó, nhưng không phải không có cách giải quyết, khắc phục. Vả lại, theo kinh nghiệm của nhiều nước cũng như yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, chỉ có Quốc hội hoạt động thường xuyên mới hoàn thành được chức năng lập pháp, mới có đủ khả năng thay đổi, bổ sung luật, đạo luật theo kịp với yêu cầu của cuộc sống. Đó là điều cần suy nghĩ. Chuyên nghiệp hoá Quốc hội cũng là hướng cần thiết. Nghị sĩ quốc hội phải làm chức năng đại biểu mà muốn vậy, phải có tài năng, khả năng và phải dành thời gian để làm tròn nghĩa vụ và thạo nghề đại biểu. Đó là chưa nói đến chuyện họ phải là những người lập pháp thành thạo, có chuyên môn sâu, hay ít nhất cũng phải có năng lực thẩm định, phản biện, chất vấn. Vấn đề tỷ lệ đại biểu chuyên trách đã được đặt ra trong những khoá gần đây (hiện nay tỷ lệ đó vào khoảng 30%). Đó là hướng đi đúng, nhưng đủ chưa. Ở đây, còn phải tính đến tỷ lệ đại biểu được tái cử và không được tái cử. Như vậy, chỉ xoay quanh việc cải cách Quốc hội theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền cũng đã làm xuất hiện nhiều vấn đề còn phải tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm, thực hiện. Chính vì vậy mà cho đến nay, Đại hội X của Đảng vẫn khẳng định: “Tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội”(9).

2) Vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước.

Điều khác nhau căn bản với nhà nước pháp quyền tư sản là Nhà nước pháp quyền ở nước ta do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Hơn nữa, chế độ ta là chế độ một đảng. Nói chế độ nhiều đảng dân chủ hơn chế độ một đảng là không chính xác, nhưng cũng phải thấy rằng, trong chế độ một đảng, Đảng lãnh đạo như thế nào để đảm bảo dân chủ, đảm bảo cho Nhà nước thực sự là quyền lực của nhân dân cũng là vấn đề phức tạp. Đảng ta lãnh đạo Nhà nước không có mục đích nào khác hơn là đem lại quyền dân chủ, quyền làm chủ cho nhân dân. Nhưng, lãnh đạo như thế nào để đạt được mục đích đó là một bài toán không dễ. Thực tiễn trong hơn 20 năm đổi mới đã cho thấy điều đó.

Không đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng thì quyền lực nhà nước sẽ bị biến dạng, biến chất. Vả lại, trong thời đại hiện nay, có nhà nước nào lại không bị chi phối bởi một đảng hay liên minh của một số đảng. Vì vậy, nếu không đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng thì sẽ xuất hiện một lực lượng chính trị nào đó chi phối quyền lực nhà nước. Nhưng Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng cách áp đặt, ra lệnh, bao biện làm thay công việc của Nhà nước như trước đây thì quyền lực của nhân dân rất dễ rơi vào tình trạng hình thức, Nhà nước sẽ trở nên thụ động, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả. Đó là chưa nói đến bản thân chức năng lãnh đạo của Đảng cũng sẽ bị giảm sút và kém hiệu quả. Hay, nói cách khác, sẽ làm suy yếu cả sự lãnh đạo của Đảng lẫn hiệu lực quản lý của Nhà nước.

Do vậy, để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước một cách có hiệu quả, Đảng phải tự đổi mới phương thức lãnh đạo của mình trên cơ sở giải quyết đúng đắn quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, phân định một cách khoa học, rõ ràng chức năng của Đảng và của Nhà nước. Đây là vấn đề không đơn giản cả về lý luận lẫn thực tiễn. Bước vào thời kỳ đổi mới, tại Đại hội VI, Đảng ta đã đặt ra nhiệm vụ đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Sau 20 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được một số kết quả trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Chẳng hạn, nếu trước đây, Quốc hội chủ yếu làm chức năng “hợp thức hoá” các văn kiện, nghị quyết của Đảng thành quy phạm, mệnh lệnh của Nhà nước, thì hiện nay, Đảng đã dành một không gian lớn hơn cho Quốc hội. Nhiều vấn đề, Đảng không cho quyết định trước mà chỉ cho phương hướng để Quốc hội giải quyết, có những vấn đề Bộ Chính trị cũng phải thay đổi khi Quốc hội có quyết định khác. Quốc hội càng ngày càng có thực quyền hơn. Tuy nhiên, đến Đại hội X, Đảng vẫn cho rằng, “việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn chậm, chưa đồng bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế”(10). Vì vậy, nhiệm vụ đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước vẫn được tiếp tục đặt ra. Nói về nhiệm vụ đó, Văn kiện Đại hội X nhấn mạnh: “Khẩn trương xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy định cụ thể về nguyên tắc, nội dung và cơ chế Đảng lãnh đạo đối với Nhà nước trong từng lĩnh vực: lập pháp, hành pháp, tư pháp và từng cấp, từng loại hình tổ chức nhà nước”(11).

3) Vấn đề tạo lập những điều kiện, cơ sở cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhưng những điều kiện cho việc xây dựng đó còn có những hạn chế nhất định. Trước hết, đó là việc chuẩn bị về mặt lý luận. Phải nói rằng, trong những năm đổi mới, chúng ta đã có những bước khởi động và tập trung nghiên cứu, tiếp cận và giải quyết từng vấn đề, từng khía cạnh cụ thể lý luận Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Tuy nhiên, việc thiết kế mô hình cụ thể chưa thực sự thật chín muồi, không ít vấn đề còn phải được nghiên cứu, trao đổi, tranh luận trên các diễn đàn, các trang sách báo. Liên quan đến lý luận nhà nước pháp quyền còn phải nói đến một số lý luận khác, như xã hội công dân, kinh tế thị trường. Những vấn đề này, cũng có thể nói, chưa được nghiên cứu đủ tầm cả về bề rộng lẫn chiều sâu; hơn nữa, vẫn còn có những quan niệm chưa thống nhất, nhất là về xã hội công dân. Nhà nước pháp quyền được xây dựng trên cơ sở xã hội công dân. Đến lượt mình, xã hội công dân chỉ có thể được hoàn thiện và phát triển thuận lợi trên cơ sở nhà nước pháp quyền. Chính vì vậy, đi đôi với xây dựng nhà nước pháp quyền, chúng ta phải tạo lập và hoàn thiện xã hội công dân. Xã hội nước ta đã là xã hội công dân chưa, xây dựng và hoàn thiện xã hội công dân đòi hỏi những gì? Tất cả những điều này phải có lý luận soi sáng, hướng dẫn. Hơn nữa, ở nước ta, thực tiễn của quá trình đổi mới và xây dựng xây dựng Nhà nước pháp quyền cũng đã xuất hiện một số vấn đề phức tạp mà lý luận chưa giải thích được hoặc giải thích chưa có sức thuyết phục. Trong quan niệm và quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền, ranh giới giữa tính nguyên tắc và bảo thủ, giữa tính linh hoạt, sáng tạo, tư duy mới và hữu khuynh không phải là điều dễ dàng phân biệt rạch ròi…

Bên cạnh những vấn đề lý luận, còn phải nói đến những hạn chế về điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Như chúng ta đã biết, tư tưởng nhà nước pháp quyền xuất hiện từ rất sớm, nhưng phải đến thời đại cách mạng tư sản mới có những điều kiện để phát triển thành học thuyết và hiện thực hoá trong thực tế. Ở nước ta hiện nay, nếu nói chưa có điều kiện để xây dựng nhà nước pháp quyền là không đúng, nhưng phải thấy rằng, chúng ta vẫn còn những hạn chế nhất định, chẳng hạn, về trình độ dân trí.

Không thể xây dựng một chế dân chủ cao trên một nền dân trí thấp kém được. Nói đến trình độ dân trí, trước hết, là nói đến ý thức pháp luật, trình độ văn hoá pháp lý. Dân chủ hiện đại đi đôi với pháp luật. Nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng phải xây dựng được Hiến pháp và một hệ thống pháp luật đảm bảo tính đồng bộ, phản ánh và đáp ứng các yêu cầu của tiến bộ xã hội.Từ sau Đại hội VI đến nay, công tác lập pháp của Quốc hội nước ta đã có những tiến bộ đáng kể, nhưng so với yêu cầu vẫn còn những hạn chế. Chúng ta vẫn còn thiếu những đạo luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội; hơn nữa, bản thân những điều luật đã có cũng cần phải được rà soát lại. Vì vậy, sau hơn 20 năm đổi mới, Đảng ta vẫn yêu cầu phải “tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội,.. Đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh”(12). Nói đến ý thức pháp luật còn phải nói đến trình độ am hiểu pháp luật của nhân dân. Không am hiểu luật, không thể có ý thức pháp luật cao.

Nói đến trình độ dân trí còn phải nói đến đòi hỏi dân chủ của nhân dân. Đòi hỏi dân chủ của nhân dân ta đã cao chưa? Đây là một câu hỏi cần phải được đặt ra. Không có đòi hỏi dân chủ cao từ phía nhân dân, từ cuộc sống không thể xây dựng chế độ dân chủ cao được. Nhân dân ta phần lớn đang ở trong tình trạng bị động, tin tưởng, chờ đợi từ phía Đảng và Nhà nước. Thực tế đã chỉ ra rằng, xây dựng chế độ dân chủ theo kiểu ban phát từ trên xuống, hoặc sẽ là rất hạn chế, hoặc sẽ trở nên hình thức. Trong chế độ dân chủ tư sản hiện nay, sở dĩ người lao động có được một số quyền dân chủ nhất định, đó tuyệt nhiên không phải là do “lòng từ thiện” của giai cấp tư sản, mà là kết quả của cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài của quần chúng lao động dưới chủ nghĩa tư bản. Dưới chủ nghĩa xã hội, dĩ nhiên, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến xây dựng chế độ dân chủ, mong muốn xây dựng một chế độ dân chủ cao, rộng rãi đối với nhân dân. Nhưng rõ ràng điều đó vẫn chưa đủ. Dân chủ phải là sự nghiệp của quần chúng, phải là “tác phẩm” của bản thân quần chúng. Đảng chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhằm mục đích xây dựng một chế độ dân chủ cho nhân dân, một chế độ dân chủ triệt để, đầy đủ và thực sự cho nhân dân. Muốn vậy, phải tiếp tục nâng cao trình độ dân trí cho cán bộ, đảng viên và quảng đại quần chúng nhân dân.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một quá trình lâu dài. Với quyết tâm chính trị cao của Đảng trong những năm qua, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã có những thành tựu nhất định, song trong quá trình xây dựng cũng nảy sinh nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, tìm kiếm, thử nghiệm. Do vậy, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đang là nhiệm vụ cấp bách đặt ra trước chúng ta./.


(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.5. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 698.

(2) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr. 56-57.

(3) Hồ Chí Minh. Sđd., t.7, tr.368.

(4) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr. 8.

(5) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.120, 121.

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nxb Sự thật, Hà Nội,1991, tr. 20.

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX.Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 131.

(8) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 146.

(9) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Sđd., tr. 126.

10) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Sđd., tr. 275.

(11) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Sđd, tr. 138.

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Sđd., tr. 132.

SOURCE: TẠP CHÍ TRIẾT HỌC SỐ 4 (203) NĂM 2008 - PGS.TS. TRẦN THÀNH – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

6. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nhà nước của dân, do dân và vì dân là tư tưởng độc đáo, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển những quan điểm tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới vào xây dựng chính quyền nhà nước kiểu mới do nhân dân làm chủ.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân

Ngay sau ngày giành được chính quyền về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chủ trương xây dựng Hiến pháp, biểu hiện đầu tiên của một Nhà nước pháp quyền. Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước Việt Nam mới, phù hợp với giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của nước ta, là một mốc son quan trọng đánh dấu quá trình bắt đầu xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.

Theo Hồ Chí Minh: “Dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ”1. Đây là một trong những vấn đề hết sức căn bản trong xây dựng nhà nước kiểu mới, Nhà nước pháp quyền của dân, do nhân dân làm chủ, mà Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra. Trong thư gửi Uỷ ban hành chính các bộ, huyện, làng xã ngày 17/10/1954, Người viết: “Cơ quan Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, xã là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung chứ không phải đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật”2. “Dân là chủ thì Chính phủ là đầy tớ, nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ đi”3. Mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân được thể hiện cụ thể trong mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ. Nhà nước có nghĩa vụ với công dân đồng thời có những quyền theo quy định của pháp luật để thực thi công quyền mà nhân dân giao phó, ngược lại công dân vừa có quyền, đồng thời có nghĩa vụ đối với Nhà nước. Người viết: “Những khi dân dùng đầy tớ để bảo vệ cho mình thì phải giúp đỡ, nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình không có nghĩa là chửi”4. Đối với cán bộ, đảng viên, nhân viên nhà nước, Người gọi đó là “công bộc”5 của dân, cách gọi ấy thật là dân dã mà sâu sắc. Trên tinh thần đó, Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có những quy định rất cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước, đồng thời cũng dành toàn bộ Chương V với 34 điều (từ Điều 49 đến Điều 82) quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Trong trước tác của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở Đảng, Nhà nước ta phải thực hành dân chủ. Người khẳng định:

Nước ta là nước dân chủ.

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ, Trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân6.

Nhà nước phải thể hiện ý chí quyền lực của dân, mưu cầu hạnh phúc cho dân, phấn đấu đem lại lợi ích cho dân, thoả mãn những nhu cầu hợp lý của các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Đó là một Nhà nước dân chủ và tiến bộ. Những lợi ích và nhu cầu đó lại phải được thực hiện một cách công bằng, dân chủ, văn minh, chính đáng, bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa phát triển các cá nhân với mục tiêu phát triển xã hội. Đồng thời, lại phải chăm lo giải quyết những vấn đề bức xúc hàng ngày của dân tộc, của đất nước.

Quan điểm về quyền làm chủ đất nước và xã hội của nhân dân đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đề cập hết sức đầy đủ và sâu sắc. Đến nay, các quan điểm này của Người vẫn giữ nguyên giá trị và có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì vậy, vấn đề cốt tử là làm sao để nhân dân thực sự làm chủ vận mệnh của đất nước. Để quyền làm chủ của nhân dân được bảo đảm và thực thi trong cuộc sống, cần xây dựng và hoàn thiện thể chế, phương thức, cơ chế thực hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, phải xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), trong đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng Nhà nước pháp quyền và các tổ chức xã hội do chính họ lập ra và quản lý. Theo đó, nhân dân vừa là người cử ra chính quyền các cấp, vừa là người quản lý, kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động của bộ máy quyền lực đó.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm chủ đất nước và xã hội của nhân dân, Đảng ta đã đúc kết thành cơ chế, chính sách quản lý, điều hành đất nước: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Cơ chế đó phát huy được tính tích cực, chủ động của các tổ chức chính trị - xã hội, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, đáp ứng đòi hỏi của các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Bước vào thời kỳ mới, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN, việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân phải tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng và học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về quyền làm chủ đất nước và xã hội của nhân dân. Bởi, đây là nền tảng tư tưởng, lý luận quan trọng trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền kiểu mới do nhân dân làm chủ.

Để tiếp tục quán triệt, học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, cần nắm chắc, thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Trước hết, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân phải nắm vững mục tiêu là tôn trọng, bảo vệ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tất cả vì độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Điều 2 Hiến pháp 1992 khẳng định rõ: Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Quan điểm trên càng có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng một Nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân - do nhân dân làm chủ, nhất là khi các thế lực thù địch đang lợi dụng chiêu bài “dân chủ” và “nhân quyền” cũng như các thủ đoạn khác để vu cáo, xuyên tạc chế độ dân chủ, chống phá cách mạng nước ta. Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”7. Tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền phải quán triệt sâu sắc quan điểm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Vấn đề là phải thống nhất nhận thức về mối quan hệ giữa toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân với quyền lực của Nhà nước. Xét về mặt chính trị - xã hội thì nhân dân là cội nguồn của quyền lực Nhà nước, là chủ thể quản lý đất nước. Quyền lực của Nhà nước pháp quyền chính là quyền lực do nhân dân làm chủ trao cho Nhà nước, thay mặt cho nhân dân quản lý xã hội. Xét về mặt quản lý thì Nhà nước là một tổ chức công quyền thực thi quyền lực. Dựa vào hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, Nhà nước thực hiện việc điều chỉnh các quá trình xã hội theo ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Vì vậy, giữa quyền lực Nhà nước với quyền làm chủ của nhân dân là thống nhất, không có sự đối lập về mục tiêu và lợi ích. Pháp luật là ý chí của nhân dân lao động, thể hiện sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Những quyền tự do, dân chủ, nghĩa vụ của nhân dân được đưa lên thành luật, và Nhà nước chịu trách nhiệm trước nhân dân, bảo đảm và bảo vệ những quyền lợi, nghĩa vụ ấy của nhân dân. Như vậy, việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN thực hiện công việc quản lý đất nước bằng pháp luật, bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, đòi hỏi Nhà nước phải tự đặt mình dưới pháp luật, tổ chức và hoạt động theo pháp luật. Đồng thời, phải nâng cao dân trí, động viên, giáo dục và tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân sử dụng quyền làm chủ, quyền lực của mình tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Hai là, phát huy quyền làm chủ của nhân dân để nhân dân thực sự thực hiện quyền làm chủ đất nước của mình. Vấn đề quan trọng hiện nay là phải tìm ra và thực thi những cơ chế, hình thức dân chủ hữu hiệu để nhân dân thật sự quyết định những công việc trọng đại của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, trước hết và trực tiếp ở cơ sở. Thực tiễn cuộc sống đã chỉ rõ, chừng nào và khi nào Nhà nước chưa tạo đủ điều kiện để nhân dân thực hiện phát huy quyền làm chủ của mình ở cơ sở, hoặc để xảy ra dân chủ cực đoan, dân chủ quá trớn, gây trở ngại cho hoạt động điều hành và quản lý của bộ máy chính quyền cơ sở, thì chừng đó quyền lực Nhà nước ở địa phương bị suy giảm, cản trở việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.

Trong quá trình phát huy dân chủ XHCN, để nhân dân thực sự thực hiện quyền lực và quyền làm chủ đất nước của mình, cần nắm vững bản chất và nội dung của vấn đề dân chủ. Dân chủ ở nước ta là dân chủ XHCN, là nền dân chủ của khối đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương; quyền lợi đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ; dân chủ được cụ thể hóa thành pháp luật, dân chủ trong khuôn khổ pháp luật; khắc phục tình trạng vô kỷ luật, dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để phá hoại chế độ XHCN. Đồng thời, tuyệt đối không mơ hồ trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với các giá trị văn hoá dân chủ XHCN. Cần phải kiên quyết chống lại những luận điệu xuyên tạc, mị dân, núp dưới chiêu bài “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” tư sản để xuyên tạc những giá trị dân chủ XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã xây dựng, vun đắp trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong các cơ quan quyền lực của tổ chức nhà nước về phẩm chất chính trị, đạo đức, phong cách, năng lực quản lý, năng lực chuyên môn để họ thực sự là “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, toàn tâm, toàn ý phục vụ lợi ích của nhân dân. Đây là nhân tố “cốt lõi” bảo đảm sự thành công của nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì nhân dân. Theo đó, cùng với việc nâng cao bản lĩnh chính trị, giáo dục đạo đức cách mạng, phải đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức nhà nước có đủ tri thức về chính trị học, xã hội học, về hệ thống chính trị, pháp luật, quản lý hành chính nhà nước, về tổ chức lao động khoa học và tâm lý quản lý... Thực hiện tiêu chuẩn hóa đội ngũ công chức theo các ngạch, bậc; tổ chức tốt việc đào tạo và thi tuyển, sát hạch, sàng lọc, bổ nhiệm theo chức danh.

Bốn là, tăng cường vai trò lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, đáp ứng được những đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng XHCN thời kỳ mới. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua khẳng định và được xác định tại Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992. Thực tiễn đã chỉ rõ: sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là điều kiện để bảo đảm Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, bảo đảm cho hệ thống chính trị có đủ khả năng đưa đất nước ta từng bước vượt qua nguy cơ, thách thức, vững vàng đi theo con đường cách mạng XHCN. Để nhân dân thực sự phát huy được quyền làm chủ thì vấn đề cốt tử hiện nay phải ra sức xây dựng, củng cố hệ thống chính trị một cách đồng bộ; đặc biệt là đổi mới và chỉnh đốn Đảng, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội, đồng thời xây dựng kiện toàn bộ máy nhà nước pháp quyền XHCN vững mạnh, trong sạch, có hiệu lực, hiệu quả cao.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới, Nhà nước của dân, do dân và vì dân vẫn mãi mãi có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn sâu sắc. Ngày nay, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta nhất định thực hiện thắng lợi tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, phấn đấu xây dựng một Nhà nước Việt Nam XHCN là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.

(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995; tr. 201-410.

(2) Hồ Chí Minh, Sđd, tr. 201-410.

(3) Hồ Chí Minh, Sđd, tr. 201-410.

(4) Hồ Chí Minh, Sđd, tr. 201-410.

(5) Hồ Chí Minh, Sđd, tr. 201-410.

(6) Hồ Chí Minh: Sđd, tr. 698.

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2001, tr.131.

TS. Phương Minh Hòa - TS, Trung tướng, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích nghiên cứu, giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)