Thời gian vay: 06 tháng (đến tháng 10/2015). - Còn trong Giấy vay tiền thì chúng tôi thống nhất ghi: + Số tiền vay: 95.200.000đ (tôi tính luôn cả gốc và lãi trong 6 tháng). + Lãi suất: Không. + Thời hạn vay: 06 tháng. + Trong Giấy vay tiền có xác nhận của bố và mẹ của anh H đồng ý cho con trai vay tiền và sẽ cùng trả nợ thay cho con. Và có cam đoan nếu không trả đúng hạn sẽ chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tôi nói với anh H khi nào có tiền thì trả lãi hàng tháng cũng được. Nhưng thực tế anh H đến thời điểm hiện nay vẫn chưa đưa cho tôi bất cứ số tiền lãi nào. Quá thời hạn 06 tháng, tôi đòi tiền nhưng anh H chưa có tiền trả. Tôi đồng ý gia hạn trả nợ. Đến tháng 12/2015, tôi yêu cầu anh H viết giấy cam đoan trả hết nợ vào tháng 01/2016. Thế nhưng, hiện nay đã qua tháng 02/2016, anh H vẫn chưa trả cho tôi bất cứ số tiền lãi và tiền gốc nào. Vì gia đình tôi đang rất cần tiền mà anh H không chịu trả theo thỏa thuận. Tôi không muốn làm ảnh hưởng đến quan hệ bạn bè nhưng hoàn cảnh nhà tôi đang rất khó khăn. Không có cách nào khác, tôi muốn xử lý việc này bằng pháp luật. Vậy, thưa Luật sư: - Tôi nên khởi kiện ra Tòa án dân sự hay Làm đơn tố cáo hành vi “*Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản*” của anh H vì số tiền chiếm đoạt trên 40.000.000đ? (Tôi không muốn xử lý dân sự vì Quyết định của Tòa án không thể thi hành ngày được khi anh H chưa muốn trả tiền) - Nếu tôi đưa ra xử lý trước pháp luật thì tôi có bị vi phạm pháp luật gì không? (*Về mặt giấy tờ thì tôi không sai, tôi ghi lãi suất là không; nhưng thỏa thuận miệng giữa tôi và anh H là lãi suất 6%/tháng*). - Sau khi đưa ra xử lý bằng pháp luật, tôi có được nhận lại số tiền gốc và lãi không? *Những chứng cứ tôi có: + Giấy vay tiền do anh H viết tay, có xác nhận của bố và mẹ của anh H. + Video quay lại cảnh anh H đọc giấy vay tiền do anh H tự viết. + Giấy cam đoan do anh H viết vào tháng 12/2015 sau khi hết thời hạn cho vay 06 tháng, có xác nhận của mẹ của anh H. Kính mong Luật sư giải đáp!

Chân thành cám ơn Luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự.

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.1940

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau

Căn cứ pháp lý

Bộ luật dân sự 2005 

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Nội dung tư vấn

Thứ nhất, bạn không thể tố cáo hành vi của bạn bạn về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được vì căn cứ theo Điều 140 Bộ luật hình sự 1999 quy định như sau:

" Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. ... "

Như vậy, trong trường hợp của bạn, có giấy thỏa thuận về số tiền vay và phương thức trả nợ, nên có thể coi đây là hợp đồng vay và là hợp đồng vay có kì hạn, cho nên không thể coi là dùng thủ đoạn gian dối vì ở đây có sự thỏa thuận giữa 2 bên.

Theo Điều 474 Bộ luật dân sự 2005 quy định về nghĩa vụ của bên vay như sau:

" 1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Do trong hợp đồng vay không ghi lãi suất nên Tòa án sẽ căn cứ vào giấy thỏa thuận, tức là  trường hợp này là vay không lãi, khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ. Hai bên cũng có thỏa thuận là gia thêm hạn trả nợ nhưng anh H cũng trả được, cho nên bạn có thể làm đơn khởi kiện đòi nợ anh H tại Tòa án nhân dân cấp huyện. Và khi có quyết định của Tòa án, gia đình anh H buộc phải thi hành, tức là phải trả cả gốc và lãi cho bạn.

Tuy nhiên, lãi suất sẽ xác định theo quy định của Bộ luật dân sự 2005:

"Ðiều 476. Lãi suất

  1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.
  2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ"

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật dân sự.