Năm 1997-1998, đường số 5 được nắn thẳng, lấp song tiêu úng, thửa đất (A) còn cách đường 7m. Như vậy thửa đất (A) có 13m nằm trong quốc lộ mới. Từ 1990 – 2009, 20 năm nay trên đất (A) có hai hộ gia đình riêng biệt là bố mẹ tôi; gia đình anh chị và các cháu; không phạm quy hoạch nào, không có tranh chấp gì. Qua nhiều cấp chính quyền, gia đình bố mẹ tôi đều có đơn xin cấp sổ đỏ nhưng không nhận được trả lời. Tôi xin phép được hỏi như sau: 1. Gia đình bố mẹ tôi, và anh chị tôi (hai hộ khẩu riêng biệt) có được hưởng mục 3 – điều 48 và mục 4 – điều 50 của luật đất đai 2003 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không? 2. Trước 1997 – 1998 thửa đất (A) cách chân đường số 5 đã được đắp để mở rộng là 20m. Sau 1997 – 1998 đường số 5 được đắp thẳng, thửa đất (A) còn cách đường số 5 là 7m và có 13m nằm trong hành lang 20m của quốc lộ. Vậy 13m này có được công nhận quyền sử dụng hợp pháp không? (Gia đình bố mẹ tôi từ 1998 đến nay không làm gì trái với quy định của nhà nước trong hành lang quốc lộ).

Tôi kính mong nhận được trả lời. Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

Câu hỏi ngày 21-10-2015

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý:

Luật đất đai năm 2013 

NĐ 100/2013/NĐ-CP Nghị định sửa đổi,bổ sung một số điều của NĐ 11/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 2 năm 2010 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. 

Nội dung tư vấn:

Căn cứ Luật đất đai 2003:

"Điều 48. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành".

"Điều 50. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất".

Trường hợp đất của bạn sử dụng mà không có giấy tờ sử dụng đất, bạn sử dụng trước 15/10/1993 và muốn xin cấp giây chứng nhận quyền sử dụng đất thì có thể nộp đơn nhờ xã xác nhận đất này không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch. Khi được xác nhận, bạn làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nộp lên phòng Tài nguyên môi trường cấp huyện. 

Tuy nhiên, hiện tại luật đất đai 2003 đã hết hiệu lực vì vậy để xác định căn cứ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ căn cứ theo luật đất đai năm 2013.

Thứ nhất,theo luật đất đai năm 2013 quy định:

Điều 99. Trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:
a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật này;
b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;
c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;
d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;
e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;
g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;
h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;
k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Như vậy,trường hợp của gia đình bạn sẽ thuộc điểm b, khoản 1 điều 99 của luật đất đai 2013. Gia đình bạn và anh chị bạn vẫn sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, đối với trường hợp đất nằm trong hành lang quốc lộ.

Khoản 2 điều 15 được sửa đổi như sau theo NĐ 100/2013/NĐ-CP:

Điều 15: Giới hạn hành lang an toàn đường bộ

Hành lang an toàn đường bộ là dải đất dọc hai bên đất của đường bộ nhằm bảo đảm an toàn giao thông và bảo vệ công trình đường bộ. Giới hạn hành lang an toàn đường bộ xác định theo quy hoạch đường bộ được cấp có thẩm quyền phê duyệt và được quy định như sau:

1. Đối với đường ngoài đô thị: Căn cứ cấp kỹ thuật của đường theo quy hoạch, phạm vi hành lang an toàn đường bộ có bề rộng tính từ đất của đường bộ trở ra mỗi bên là:

a) 17 mét đối với đường cấp I, cấp II;

b) 13 mét đối với đường cấp III;

c) 09 mét đối với đường cấp IV, cấp V;

d) 04 mét đối với đường có cấp thấp hơn cấp V.

2. Đối với đường đô thị, giới hạn hành lang an toàn đường bộ là chỉ giới đường đỏ theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

3. Đối với đường cao tốc ngoài đô thị:

a) 17 mét, tính từ đất của đường bộ ra mỗi bên;

b) 20 mét, tính từ mép ngoài của kết cấu ngoài cùng ra mỗi bên đối với cầu cạn và hầm;

c) Trường hợp đường cao tốc có đường bên, căn cứ vào cấp kỹ thuật của đường bên để xác định hành lang an toàn theo Khoản 1 Điều này nhưng không được nhỏ hơn giới hạn hành lang an toàn được quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 3 Điều này.

Như vậy, 13m này không được công nhận quyền sử dụng hợp pháp vì nó nằm trong hành lang an toàn đường bộ.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai.