Xin quý luật sư trả lời giúp: Vậy chúng tôi nên làm gì bây giờ? Vì chúng tôi không muốn sự việc này tiếp tục và nếu họ kiện đòi lại đất thì chúng tôi có phải giao lại hay không? Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê.
Người gửi: L.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật đất đai của công ty luật Minh Khuê.

Bị kiện đòi lại đất thì chúng tôi có phải giao lại hay không ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý

Bộ luật dân sự năm 2005 

Luật đất đai năm 2013

Nội dung phân tích:

Điều 465 bộ luật dân sự quy định : 

"Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận."

Theo quy định của pháp luật thì Hợp đồng tặng cho tài sản là một hợp đồng không đền bù, tức là bên nhận tặng cho sẽ không phải trả cho bên tặng cho tài sản tương đương với vật mình được tặng cho và  việc tặng cho tài sản sẽ làm chuyển đổi quyền sở hữu tài sản giữa bên tặng cho và bên nhận tặng cho. Do đó bên đã tặng cho tài sản thuộc quyền sở hữu của mình không thể đòi lại tài sản đã tặng cho trừ khi hợp đồng tặng cho là vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội

Khoản 3 điều 167 Luật đất đai năm 2013 quy định : " Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;"

Ngoài ra khoản 3 điều 188 Luật đất đai quy định :" Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính."

Theo quy định của pháp luật đất đai thì việc tặng cho quyền sử dụng đất phải lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Và thời điểm chuyển giao quyền sử dụng đất là thời điểm sang tên quyền sử dụng đất tại cơ quan đăng kí đất đai. Trong bài viết gửi đến Công ty bạn chỉ nói chú thím bạn cho vợ chồng bạn một lô đất mà không nói đến việc tặng cho có lập thành văn bản và công chứng hoặc chứng thực không hay chỉ cho miệng. Do đó chúng tôi xin tư vấn cho bạn 2 trường hợp sau:

Trường hợp 1: Khi chú bạn cho vợ chồng bạn đất có lập thành hợp đồng và được công chứng hoặc chứng thực. Như vậy theo quy định của pháp luật thì hợp đồng tặng cho của chú bạn và bạn có hiệu lực trước pháp luật.

Nếu vợ chồng bạn và chú bạn đã làm thủ tục sang tên thì vợ chồng bạn trở thành người có quyền sử dụng với đất đai, và chú của bạn không có quyền đòi đất.Theo điều 46 Bộ luật dân sự thì công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, bạn có thể tố cáo với cơ quan công an về việc chú thím bạn vào nhà gây rối.

Nếu vợ chồng bạn và chú bạn mới chỉ kí hợp đồng mà chưa làm thủ tục sang tên. Bạn có thể yêu cầu chú thím bạn thực hiện hợp đồng ( đăng kí biến động với cơ quan đăng kí đất đai) và đến cơ quan đăng kí đất đai làm thủ tục sang tên. Nếu chú thím bạn không chịu thực hiện hợp đồng, bạn có thể khởi kiện yêu cầu thực hiện hợp đồng đến tòa án nhân dân huyện nơi có bất động sản ( điều 25, điều 33, điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự). Sau khi làm xong thủ tục sang tên vợ chồng bạn sẽ chính thức trở thành người có quyền sử dụng với tài sản.

Trường hợp 2 nếu khi chú bạn cho vợ chồng bạn đất mà không lập thành văn bản và được công chứng hoặc chứng thực. Như vậy việc tặng cho của chú bạn không có hiệu lực pháp luật. Do đó chú thím bạn có quyền đòi đất. Nếu vợ chồng bạn không trả chú thím bạn có quyền khởi kiện yêu cầu trả đất.Tuy vậy bạn có nói đến việc bạn đã xây nhà trên mảnh đất đó - việc xây nhà là hợp pháp vì được sự đồng ý của chú thím bạn qua việc chú thím bạn đồng ý bằng miệng hoặc văn bản là cho vợ chồng bạn đất. Vì thế nếu chú thím bạn muốn đòi lại đất thì phải chịu trách nhiệm trả cho vợ chồng bạn số tiền tương đương với trị giá của căn nhà vào thời điểm hiện tại. 

Bạn có nói chú thím bạn có đòi vợ chồng bạn 100 triệu thì sẽ dừng lại việc đòi đất. Nếu không đồng ý với việc trả đất, vợ chồng bạn nên đồng ý với yêu cầu của chú thím bạn. Tuy nhiên khi trả tiền vợ chồng bạn nên yêu cầu  chú thím bạn lập một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có công chứng hoặc chứng thực sau đó làm thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật. Như vậy mảnh đất sẽ chính thức thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bạn, tránh việc tranh chấp sau này.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ tư vấn của Công ty chúng tôi. Nếu còn thắc mắc bạn vui lòng liên hệ qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn hoặc tổng đài 19006162 để được tư vấn.

TRÂN TRỌNG./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI.