Căn nhà số *** Phan Ngọc Hiển Khóm * Phường * Thành Phố Cà Mau,Tỉnh Cà Mau hiện tại bà ngoại tôi đang ở không có giấy chủ quyền nhà đất. Căn nhà trên vốn thuộc sở hữu căn của bà Thài Thị Ba, nhưng bà Thái Thị Ba đi nước ngoài định cư nên để lại cho bà ngoại tôi ở từ trước năm 1978 cho đến nay. Vì bà ngoại tôi với bà Ba là thông gia với nhau nên chẳng có giấy sang bán. Sau đó bà Ba đã mất tại Hoa Kỳ không có để lại di chúc cho ai nhưng theo luật pháp việt nam: khi cha mẹ mất thì phần tài sản thừa kế thuộc về 2 người con của bà Ba là ông: Hứa Thanh Liêm và ông: Hứa Kim Long. Hai người con bà Ba đã viết giấy chuyển nhượng lại cho bà ngoại tôi và mẹ tôi để ở ngôi nhà đó.

Sáng hôm nay ngày 01-06-2015 phía nhà đất tại Cà Mau có mời bà ngoại tôi và mẹ tôi lên làm việc tại sở xây dựng tỉnh Cà Mau để giải quyết vụ việc thì được cô Lý, cô Khoa nói nhà nước không chấp nhận phần đất nhà ở địa chỉ trên là của hai người con của bà Thái Thị Ba và cho rằng phần đất tại số nhà trên là của nhà nước. Lý do vì hai người con của bà Thái Thị Ba không có ở Việt Nam nên phần đất trên là của nhà nước là đúng hay sai? Họ cũng đòi lấy tiền thuê nhà từ năm 1997 cho đến nay, đồng thời bắt làm hợp đồng thuê nhà lại của nhà nước 

Hiện tại bà ngoại tôi đã già và ốm, mẹ tôi cũng như tôi rất cần sự giúp đỡ của luật sư tư vấn. Nếu cần thiết thì có thể nhờ đến luật sư giúp đỡ trực tiếp để dành quyền lợi cho gia đình

Người gửi: N.T.H

 Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

[Contact] Liên hệ mới từ lu��t Minh Khuê 09-06-15 12:53 

Luật sư tư vấn luật đất đai gọi số: 1900 6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào các thông tin bạn cung cấp, xin tư vấn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật đất đai 2013

Nội dung tư vấn:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì ngôi nhà bạn đang ở là của bà Thái Thị Ba để lại, nhưng trước đó bà ấy cũng không có giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất nên hiện tại sẽ không có căn cứ để xác định đó là đất do bà Thái Thị Ba để lại. Tuy nhiên mảnh đất trên gia đình bạn đã sử dụng từ năm 1978 cho đến nay và không có bất kì một tranh chấp nào nên theo quy định của pháp luật đất đai thì bạn có thể làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất đó, Căn cứ vào Điều 101 Luật đất đai 2013 như sau:

" Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Sau khi bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bạn sẽ có quyền sử dụng mảnh đất và ngôi nhà trên đất đó, và không phải nộp tiền thuê nhà như bạn đã trình bày ở trên.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900 6162.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT ĐẤT ĐAI.