Thời gian này người ta đang thu thuế nhà đất, nhưng cùng một diện tích đất và cùng một chủ đất (vì trước đây ở khu nhà em họ chỉ mua đất qua viết tay cùng một mảnh họ phân lô ra bán) nhưng số thuế nhà em phải nộp cao gấp 2, 3 lần các nhà khác. cụ thể diện tích đất 100m2 nhưng số thuế nhà em 170.000đ mà các nhà khác 75.000đ. năm trước thì các nhà khác vẫn thế nhưng nhà em thì lại 334.000đ.cho em hỏi tại sao lại có sự chênh lệch như thế? và bây giờ em có thể gặp ai để giải quyết thắc mắc này?

Emm xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê

Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Hợp đồng tay lại “mạnh” hơn “giấy đỏ”

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê, đối với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp và tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp 1993

Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 2010

2. Nội dung tư vấn:

Theo điều 5 Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp 1993 có quy định căn cứ tính thuế sử dụng đất nông nghiệp bao gồm:

- Diện tích đất tính thuế: “Diện tích tính thuế sử dụng đất nông nghiệp là diện tích giao cho hộ sử dụng đất phù hợp với sổ địa chính Nhà nước. Trường hợp chưa lập sổ địa chính thì diện tích tính thuế là diện tích ghi trên tờ khai của hộ sử dụng đất.” (điều 6). Theo đó, diện tích đất tính thuế là diện tích thực tế sử dụng được ghi trong sổ địa chính của Nhà nước hoặc diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Trường hợp địa phương chưa làm sổ địa chính hoặc chưa có kết quả đo đạc được xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì diện tích tính thuế được ghi trong tờ khai của từng hộ nộp thuế. Diện tích đất tính thuế gồm diện tích thực tế sử dụng kể cả bờ xung quanh của từng thửa ruộng, đất phục vụ trực tiếp cho sản xuất, không kể phần bờ dùng cho giao thông nội đồng hoặc dùng chung cho từ một cánh đồng trở lên. Đối với các nông trường trạm trại quốc doanh diện tích đất tính thuế là diện tích thực tế sử dụng phù hợp với luận chứng kinh tế - kĩ thuật được duyệt và thực tế địa hình.

- Hạng đất: Đất trồng cây hàng năm và đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản được chia làm 6 hạng, đất trồng cây lâu năm được chia làm 5 hạng. Căn cứ để xác định hạng đất gồm các yếu tố : Chất đất: độ phì của đất, thích hợp với từng loại cây trồng. Vị trí: là khoảng cách so với nơi cư trú của người sử dụng đất, khoảng cách so với thị trường tiêu thụ nông sản phẩm. Địa hình: là độ bằng phẳng, dốc, trũng hoặc ngập úng của mảnh đất.Ngoài ra còn nao gồm các điều kiện về khí hậu, thời tiết; điều kiện tưới tiêu. Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định việc phân hạng đất phải xem xét đến năng suất bình quân đạt được trong điều kiện canh tác bình thường của năm năm.

- Định suất thuế: quy định có phân biệt các loại đất nông nghiệp. Định suất thuế một năm tính bằng kilôgam thóc trên 1 ha của từng hạng đất (điều 9) ví dụ như: Đối với cây ăn quả lâu năm trồng trên đất trồng cây hàng năm chịu mức thuế bằng 1,3 lần thuế đất trồng cây hàng năm cùng hạng, nếu thuộc đất hạng 1, hạng 2 và hạng 3 ;bằng thuế đất trồng cây hàng năm cùng hạng, nếu thuộc đất hạng 4, hạng 5 và hạng 6.

Thuế bổ sung cho diện tích đất nông nghiệp sử dụng vượt quá hạn mức

- Diện tích đất nông nghiệp sử dụng vượt quá hạn mức: là phần chênh lệch giữa tổng diện tích đất chịu thuế và diện tích đất nông nghiệp sử dụng trong hạn mức.

- Mức thuế ghi thu bình quân cho từng loại đất nông nghiệp để xác định số thuế bổ sung là mức thuế sử dụng đất nông nghiệp tính bình quân trên một đơn vị diện tích cho từng loại đất của hộ nộp thuế (xác định bằng tỉ lệ giữa tổng số thuế ghi thu và tổng diện tích đất chịu thuế)

- Thuế suất: là thuế bổ sung xác định bằng 20% mức thuế sử dụng đất nông nghiệp

Theo điều 5 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 2010, căn cứ tính thuế bao gồm:

- Giá tính thuế: Giá tính thuế đối với đất được xác định bằng diện tích đất tính thuế nhân với giá của 1m2 đất.

Diện tích đất tính thuế được quy định như sau:là diện tích đất thực tế sử dụng. Trường hợp có quyền sử dụng nhiều thửa đất ở thì diện tích đất tính thuế là tổng diện tích các thửa đất tính thuế. Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để xây dựng khu công nghiệp thì diện tích đất tính thuế không bao gồm diện tích đất xây dựng kết cấu hạ tầng sử dụng chung; Đối với đất ở nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư bao gồm cả trường hợp vừa để ở, vừa để kinh doanh thì diện tích đất tính thuế được xác định bằng hệ số phân bổ nhân với diện tích nhà của từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng....

- Thuế suất: Thuế suất đối với đất ở bao gồm cả trường hợp sử dụng để kinh doanh áp dụng theo biểu thuế luỹ tiến từng phần được quy định tại khoản 1 điều 7 luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Đất ở nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư, công trình xây dựng dưới mặt đất áp dụng mức thuế suất 0,03%; Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp áp dụng mức thuế suất 0,03%; Đất sử dụng không đúng mục đích, đất chưa sử dụng theo đúng quy định áp dụng mức thuế suất 0,15%...

Do vậy, tùy vào mục đích sử dụng, tính chất đất, đặc điểm các công tình xây dựng trên đất.. để có căn cứ chính xác tính thuế đất. Mặc dù đất của bạn và những người hàng xóm cùng một diện tích đất và cùng một chủ đất nhưng nếu được sử dụng khác nhau về mục đích, kết cấu nhà của bạn cao tầng, nhiều công trình xây dựng thì đều là những yếu tố khiến giá thuế đất của gia đình bạn cao hơn.

Về vấn đề khiếu nại :

Nếu bạn cảm thấy việc tính thuế đang áp dụng đối với mảnh đất của gia đình bạn là không thỏa đáng, lạm thu quá mức, bạn có thể khiếu nại theo điều 30 Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp 1993 “Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại việc thi hành không đúng Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp. Trong khi chờ giải quyết, người khiếu nại phải nộp đủ và đúng thời hạn số thuế, tiền phạt đã được thông báo.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo nộp thuế, người nộp thuế có quyền khiếu nại. Đơn khiếu nại phải được gửi đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi lập sổ thuế. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải xem xét, có ý kiến và chuyển ngay lên Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Chi cục thuế có trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết khiếu nại trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhân đơn; đối với những vụ phức tạp, có thể kéo dài thời hạn, nhưng không quá 60 ngày. Quá thời hạn này mà chưa giải quyết, thì chi cục trưởng chi cục thuế phải chịu trách nhiệm về hậu quả do việc chậm xử lý gây ra.

Cơ quan thuế phải thoái trả số thuế, tiền phạt đã thu không đúng Luật trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định giải quyết khiếu nại; nếu quá thời hạn trên, thì mỗi ngày chậm thoái trả bị phạt tiền bằng 0,2% số tiền thuế, tiền phạt cho người được thoái trả.”, hoặc làm việc trực tiếp tại cơ quan thuế tại địa phương.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê