1. Có được xây nhà ở trên đất vườn thuộc khu đô thị ?

Kính gửi văn phòng luật sư. tôi đang sinh sống và làm việc tại TPHCM cuối năm 2015 vợ chồng tôi có mua 1 miếng đất diện tích 8*9m2 (đất vườn) nằm trong khu đô thị và đầu năm 2016 vợ chồng tôi xây nhà trên miếng đất đó nhưng chỉ xây với diện tích 4*9 m2 với kết cấu 1 trệt 1 lầu đổ tấm giả vì theo quy định đất đó không được đổ thiệt.

Nhà chúng tôi xây không xin giấy phép vì khu nhà tôi ở trước giờ toàn xây nhà theo hình thức chui và lo cho người có thế lực ở xã thì có thể xây được mặc dù lo tiền nhưng vợ chồng tôi vẫn chấp hành theo quy định là xây 1 trệt 1 lầu đổ giả mọi việc diễn ra khá thuận lợi nhà chúng tôi đang vào khâu hoàn thiện là sơn cửa và gắng kiếng cửa nữa là hoàn thiện. thì cấp trên đưa thông tin xuống yêu cầu nhà tôi phải tháo dỡ ( 27/4) nếu không sẽ bị cưỡng chế. hôm nay tôi viết mail này lên nhờ luật sư hướng dẫn giúp tôi giải quyết việc này vì hoàn cảnh nhà tôi khó khăn phải nuôi mẹ già bản thân là người tỉnh lẽ vào Tp để lập nghiệp nên rất mong muốn có nhà để ở ?

Rất mong quý luật sư giúp đỡ vợ chồng tôi trong thời gian ngắn nhất xin chân thành cảm ơn .

Có được xây nhà ở trên đất vườn thuộc khu đô thị ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi: 1900.6162

Trả lời

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

- Khoản 6 Điều 103 Luật đất đai năm 2013 quy định như sau:

"6. Phần diện tích đất vườn, ao còn lại sau khi đã xác định diện tích đất ở theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 của Điều này thì được xác định sử dụng vào mục đích hiện trạng đang sử dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này

- Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP quy định về thu tiền sử dụng đất quy định về mức thu tiền sử dụng đất như sau

"2. Đối với hộ gia đình, cá nhân:

a) Chuyển từ đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư không được công nhận là đất ở theo quy định tại Khoản 6 Điều 103 Luật Đất đai sang làm đất ở; chuyển từ đất có nguồn gốc là đất vườn, ao gắn liền nhà ở nhưng người sử dụng đất tách ra để chuyển quyền hoặc do đơn vị đo đạc khi đo vẽ bản đồ địa chính từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 đã tự đo đạc tách thành các thửa riêng sang đất ở thì thu tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định chuyển mục đích của cơ quan nhà nước có thẩm quyền."

Vậy đất vườn của bạn thuộc khu đô thị dù có nằm trong thửa đất nhà ở cũng không được công nhận là đất ở, đất vườn phải sử dụng đúng mục đích theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật đất đai năm 2013. Muốn xây nhà ở trên đất vườn bạn phải chuyển mục đích sử dụng đất. Khi chuyển mục đích sử dụng đất thì tiền sử dụng đất bằng 50% chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định chuyển mục đích của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại Luật đất đai năm 2013 như sau:

"Điều 59. Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức;

b) Giao đất đối với cơ sở tôn giáo;

c) Giao đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 55 của Luật này;

d) Cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 56 của Luật này;

đ) Cho thuê đất đối với tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định;

b) Giao đất đối với cộng đồng dân cư.

3. Ủy ban nhân dân cấp xã cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.

4. Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không được ủy quyền."

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Tư vấn pháp luật miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Thuế khi xây dựng nhà thuê công ty xây dựng ?

Chào luật sư, Tôi có hợp đồng với công ty xây dựng thi công xây nhà ở . Trong hợp đồng có ghi rõ tiền nhân công, tiền vật liệu, tổng tiền công trình ( tiền trên chưa có GTGT).Vậy xin hỏi gia đình tôi có phải đóng thuế không?
Rất mong nhận được sự hỗ trợ, tư vấn của luật sư.

Thuế khi xây dựng nhà thuê công ty xây dựng ?

Luật sư tư vấn pháp luật thuế gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Đối với lĩnh vực thuế xây dựng nhà tư nhân thì chủ thầu khi nhận thi công công trình phải đăng ký hợp đồng xây dựng, kê khai nộp thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng thuế thu nhập doanh nghiệp tại cơ quan quản lý thuế nơi có công trình đang xây dựng. Trong trường hợp hợp đồng xây dựng giữa chủ thầu và chủ thống nhất việc nộp thuế do chủ nhà thực hiện thì chủ nhà phải có nghĩa vụ kê khai và nộp thuế vào cơ quan nhà nước.

Tuy nhiên trong trường hợp này của bạn hợp đồng giữa các bên thể hiện giá trị hợp đồng chưa bao gồm thuế GTGT vậy thuế GTGT là thuế đánh trên người tiêu dùng hàng hóa cuối cùng vậy trong trường hợp này khi bên công ty thầu xuất hóa đơn cho bạn bạn sẽ có nghĩa vụ trả khoản thuế GTGT trên hóa đơn cho phía công ty.

Các khoản thuế còn lại sẽ do công ty thầu xây dựng có nghĩa vụ nộp cho nhà nước.

Trường hợp theo hướng dẫn tại Công văn 3700/TCT-DNK thuế suất thuế GTGT thì "Trường hợp chủ hộ gia đình tự mua vật tư xây dựng và tự thuê công nhân xây dựng lẻ (không hợp đồng) hoặc có thuê thầu xây dựng nhưng không cung cấp được hợp đồng và các căn cứ chứng minh đã thuê thầu xây dựng thì chủ hộ gia đình là người phải nộp thuế thay"

Trường hợp chủ hộ gia đình tự mua vật tư xây dựng và tự thuê công nhân xây dựng lẻ (không hợp đồng) hoặc có thuê thầu xây dựng nhưng không cung cấp được hợp đồng và các căn cứ chứng minh đã thuê thầu xây dựng thì chủ hộ gia đình là người phải nộp thuế thay. Tuy nhiên, vật tư bạn có thể mua, cơ quan thuế không thu thuế vật tư của nhà tư nhân.

>> Tham khảo một số văn bản pháp pháp lý điều chỉnh vấn đề trên:

Thông tư số 96/2002/TT-BTC của Bộ Tài chính : Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 75/2002/NĐ-CP ngày 30/8/2002 của Chính phủ về việc điều chỉnh mức thế Môn bài

Thông tư 96/2015/TT-BTC hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp tại Nghị định 12/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 78/2014/TT-BTC, Thông tư 119/2014/TT-BTC, Thông tư 151/2014/TT-BTC do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành

Thông tư số 219/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. Một số thành tựu cải cách chính phủ theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Cải cách bộ máy nhà nước theo hướng tăng cường tính pháp quyền mà trọng tâm là cải cách Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước được chính thức đề ra tại Nghị quyết Đại hội VII của Đảng (năm 1991).

Đến nay, sau gần 20 năm, công cuộc cải cách Chính phủ theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều mặt. Trong đó, có một số thành tựu cần được phân tích, đánh giá khách quan, đầy đủ, để có thể kế thừa và phát huy trong việc tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính đồng bộ với cải cách lập pháp, cải cách tư pháp, cũng như đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị nói chung.

1. Những quy định mới của Hiến pháp năm 1992 bảo đảm vị trí độc lập tương đối của Chính phủ

Thành tựu quan trọng nhất về mặt thể chế là những quy định mới của Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa, bổ sung đổi năm 2001) về vị trí, vai trò của Chính phủ, đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc thúc đẩy cải cách Chính phủ theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.

Bước vào thực hiện cơ chế thị trường, yêu cầu về nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính nhà nước đối với mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội trở nên ngày càng đa dạng và phức tạp, đòi hỏi phải phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Chính phủ. Cơ quan hành pháp phải có đủ quyền lực và có khả năng sử dụng quyền lực một cách linh hoạt, nhanh nhạy để đối phó có hiệu quả với diễn biến của tình hình thực tế. Chính vì vậy, Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1). Quy định rất quan trọng này của Hiến pháp năm 1992, một mặt tuân thủ yêu cầu của nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất và nguyên tắc phân công, phối hợp quyền lực, mối quan hệ giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp, mặt khác, bảo đảm tính độc lập tương đối của quyền hành pháp trong quan hệ với quyền lập pháp, quyền tư pháp, qua đó đề cao vai trò của hành pháp, tạo cơ sở cho Chính phủ quyền độc lập và chủ động, linh hoạt, nhanh nhạy trong quản lý, điều hành có hiệu lực, hiệu quả mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội của đất nước.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hành chính qua điện thoại gọi: 1900.6162

Việc xác định lại vị trí của Chính phủ là kết quả của việc nhận thức đóng đắn về phân công, phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong mối quan hệ quyền lực nhà nước thống nhất phù hợp với thể chế chính trị ở nước ta. Điều này tạo sự tương đồng với các quan niệm, cũng như quy định về Chính phủ ở các nước trên thế giới.

So với Hiến pháp năm 1980, nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ theo Hiến pháp năm 1992 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng là:

- Từ bỏ các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến công tác kế hoạch hoá tập trung, trực tiếp của Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân, chuyển sang các nhiệm vụ quản lý vĩ mô bằng các công cụ chính sách, pháp luật;

- Từ bỏ thực hiện nhiệm vụ cải tạo nền kinh tế;

- Đưa vấn đề chống quan liêu, tham nhũng thành nhiệm vụ cụ thể của Chính phủ;

- Ổn định các nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong khuôn khổ Hiến pháp, loại bỏ quy định của Hiến pháp năm 1980 cho phép Quốc hội có thể giao cho Chính phủ những nhiệm vụ, quyền hạn khác ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Hiến pháp mà không phải sửa đổi Hiến pháp.

Một trong những thay đổi quan trọng nhất của Hiến pháp năm 1992 là đổi mới cơ chế hoạt động của Chính phủ. Cụ thể hoá nguyên tắc tập trung dân chủ, Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Chính phủ đã định ra ba nguyên tắc then chốt cho hoạt động của Chính phủ phù hợp với quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đó là các nguyên tắc: Chính phủ “là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, “những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ phải được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số” (2); Thủ tướng Chính phủ “lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, UBND các cấp” (3); “Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực, ngành mình phụ trách trong phạm vi cả nước” (4).

Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Chính phủ, về nguyên tắc, Chính phủ có hai cơ chế hoạt động khác nhau: cơ chế lãnh đạo của tập thể Chính phủ đối với những vấn đề mang tính chất chính sách và những loại nhiệm vụ quan trọng đã được quy định bởi Hiến pháp và luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ mà Tập thể Chính phủ quyết định theo đa số; và cơ chế thủ trưởng, bảo đảm vai trò chỉ đạo điều hành chung và thống nhất của Thủ tướng Chính phủ đối với hoạt động của hệ thống hành pháp và hành chính nhà nước, để thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và các quyết định của Chính phủ. Thủ tướng có toàn quyền quyết định đối với những vấn đề được Hiến pháp và pháp luật quy định thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng không phụ thuộc vào Tập thể Chính phủ. Hai cơ chế này có mối quan hệ tác động qua lại, liên quan chặt chẽ với nhau làm cho hoạt động của Chính phủ trở nên linh hoạt, mềm dẻo, nhanh nhạy hơn, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt, có hiệu lực, hiệu quả, nhưng vẫn bảo đảm trật tự hiến pháp: Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất.

Các nguyên tắc nói trên đã tạo cơ sở cho việc phân định và tách bạch giữa chức năng xây dựng, hoạch định chính sách với chức năng tổ chức thực hiện chính sách trong hoạt động quản lý nhà nước của hệ thống hành chính. Theo đó, chức năng của Chính phủ là hoạch định và điều hành các chính sách quốc gia theo định hướng chính trị được đề ra trong các nghị quyết của Đảng, phù hợp với các quy định của Hiến pháp và các đạo luật, còn việc tổ chức thực hiện chính sách, thể chế sẽ do các bộ và chính quyền địa phương đảm nhiệm. Bộ trở thành cơ quan điều hành, cơ quan chính thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước của Chính phủ và trách nhiệm của Bộ trưởng trong việc quyết định những vấn đề thuộc chức năng, thẩm quyền của bộ được tăng cường. Bộ trưởng trở thành người đứng đầu bộ máy hành chính về lĩnh vực mà ngành mình phụ trách. Còn Thủ tướng là người lãnh đạo và điều phối các hoạt động của Chính phủ, là người bảo đảm sự thống nhất trong tổ chức thực thi quyền hành pháp và hành chính nhà nước, bảo đảm trật tự, kỷ cương, tính thông suốt trong hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở.

2. Hệ thống thể chế được đổi mới và hoàn thiện, phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường đáp ứng các yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền

Phù hợp với quá trình chuyển đổi phương thức quản lý từ trực tiếp vi mô, chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính sang quản lý gián tiếp vĩ mô bằng hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật đồng bộ, pháp luật ngày càng trở thành công cụ quản lý, điều hành chủ yếu, quan trọng nhất trong việc thực hiện chức năng, thẩm quyền quản lý của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Trong bối cảnh này, hoạt động quan trọng nhất đối với cơ quan hành chính nhà nước là tạo dựng và duy trì khuôn khổ chính sách, pháp luật cho các hoạt động của công dân, tổ chức. Thực tế cho thấy, công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế ngày càng trở nên quan trọng và đã thực sự trở thành hoạt động cơ bản, chủ yếu của Chính phủ và bộ máy hành chính ở trung ương. Công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ đang trở thành nhiệm vụ trung tâm, được ưu tiên hàng đầu trong hoạt động chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Việc xem xét, thông qua các dự án tại các phiên họp của Chính phủ cũng đã được cải tiến. Số lượng các dự án luật, pháp lệnh Chính phủ cho ý kiến, trình Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội những năm gần đây tăng nhanh đáng kể: năm 1999 là 12 dự án (02 luật, 10 pháp lệnh), năm 2000 là 11 dự án (05 luật, 06 pháp lệnh), năm 2001 là 22 dự án (11 luật, 10 pháp lệnh, 01 nghị quyết), năm 2002 là 6 dự án (04 luật, 02 pháp lệnh), năm 2003 là 34 dự án (20 luật, 14 pháp lệnh), năm 2004 là 36 dự án (Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua 24 dự án)(5), năm 2005 là 38 dự án (Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua 33 dự án)(6); năm 2006 là 23 dự án; năm 2007 là 17 dự án; năm 2008 là 36 dự án (trong đó, Quốc hội đã thông qua 18 luật, 2 nghị quyết, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua 8 pháp lệnh).

Số lượng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong những năm qua ngày càng tăng và có tiến bộ về chất lượng, cụ thể (7): năm 2000 là 281 văn bản; năm 2001 là 347; năm 2002 là 337; năm 2003 là 488; năm 2004 là 494; năm 2005 là 566; năm 2006 là 526; năm 2007 là 481; năm 2008 là 374 văn bản. Từ năm 2000 đến 2008, hàng năm, trung bình Chính phủ ban hành gần 150 nghị định, thông qua đó đã tạo lập cơ sở vững chắc cho cải cách thể chế, thực hiện sự kết hợp giữa cải cách lập pháp và cải cách hành chính. Một loạt các luật được Chính phủ soạn thảo và trình Quốc hội ban hành như Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Phá sản, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Hải quan, Luật Thương mại, Luật Điện lực… đã kịp thời khắc phục tình trạng thiếu luật để điều chỉnh các quan hệ kinh tế trong nhiều lĩnh vực, tạo sự an tâm và tin tưởng vào chính sách của Đảng và nhà nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế. Điều cần nhấn mạnh là, Chính phủ đã chỉ đạo sát sao để thể hiện trong các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật tinh thần và quan điểm cải cách hành chính. Các luật đã ban hành thể hiện rõ các quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế, tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước, thông qua đó giảm thiểu đáng kể sự can thiệp bằng các biện pháp hành chính của các cơ quan nhà nước vào các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại nói chung và hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng, giảm thiểu cơ chế xin – cho.

3. Chức năng của Chính phủ và các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước được điều chỉnh, bảo đảm sự phù hợp với cơ chế kinh tế mới và hội nhập kinh tế

Một trong những kết quả quan trọng nhất của cải cách hành chính trong hơn 10 năm qua, nhất là kể từ khi thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là đã từng bước điều chỉnh, làm rõ chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ và của từng cơ quan trong hệ thống hành chính, khắc phục những chồng chéo, trùng lắp, lẫn lộn chức năng, nhiệm vụ trong hoạt động của bộ máy hành chính. Nhiều loại công việc trước đây do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giải quyết, quyết định nay đã được chuyển cho các bộ, ngành hoặc phân cấp cho chính quyền địa phương thực hiện. Quá trình xây dựng và ban hành đầy đủ các nghị định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đã mang lại các kết quả quan trọng, như: khắc phục được sự chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm được nguyên tắc một việc chỉ giao cho một cơ quan thực hiện và phân cấp mạnh và đồng bộ cho chính quyền địa phương các cấp. Trên thực tế, Chính phủ đã thực hiện bước điều chỉnh lớn và quan trọng về thẩm quyền giữa các cấp hành chính cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Theo đó, chính quyền địa phương được phân cấp, tự chủ nhiều hơn, nhất là trong các lĩnh vực ngân sách, tài chính, đầu tư, đất đai, y tế, giáo dục…

Tiếp tục từng bước xoá bỏ cơ chế chủ quản đối với doanh nghiệp, loại bỏ chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp của bộ, cơ quan ngang bộ. Kết quả quan trọng trong việc làm rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước là bước đầu phân biệt, tách bạch hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước với hoạt động của đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công, từng bước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện cho các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công. Đây là điểm hết sức có ý nghĩa trong bối cảnh tổ chức bộ máy hành chính ở nước ta còn nhiều tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công trực thuộc các bộ và chính quyền địa phương các cấp, mà cơ chế quản lý trước đây chưa có sự phân biệt rõ cho từng loại hình tổ chức.

Nhìn tổng thể có thể thấy, hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ và các bộ đã tập trung chủ yếu vào thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo pháp luật trong phạm vi cả nước trên tất cả các ngành, lĩnh vực đời sống, kinh tế – xã hội; tập trung thời gian và nguồn lực vào việc thực hiện chức năng, thẩm quyền đích thực của mình là xây dựng, hoàn thiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách, đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát việc thực hiện.

4. Cơ cấu tổ chức bộ máy Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương được điều chỉnh, sắp xếp theo hướng tinh gọn, hợp lý, hiệu lực, hiệu quả

Việc điều chỉnh, sắp xếp cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ được thực hiện theo nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Trong vòng 8 năm, tổng số các đầu mối của Chính phủ từ 48 cơ quan đến năm 2007 chỉ còn 30 cơ quan, bao gồm 22 bộ, cơ quan ngang bộ và 8 cơ quan thuộc Chính phủ. Đến năm 2007, không còn loại cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Chức năng quản lý nhà nước đối các ngành, lĩnh vực được tập trung về các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện.

Cơ cấu bên trong các bộ, cơ quan ngang bộ cũng được điều chỉnh, sắp xếp tương đối phù hợp theo hướng xác định rõ tính chất, chức năng của từng loại cơ cấu tổ chức trực thuộc, loại bỏ những cơ cấu trung gian, phân biệt rõ các đơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước với các tổ chức sự nghiệp cung cấp dịch vụ công.

Cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn ở địa phương cũng được đổi mới, sắp xếp phù hợp với tổ chức ngành ở Trung ương và điều kiện cụ thể của địa phương. Chính phủ đã ban hành các nghị định quy định về cơ cấu các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện, khẳng định mô hình tổ chức cứng, được tổ chức nhất quán theo quy định của Trung ương và đồng thời trao quyền cho địa phương tự quyết định các loại tổ chức mềm phù hợp.

Việc điều chỉnh, sắp xếp các cơ quan trong hệ thống hành chính, nhất là đối với các cơ quan của Chính phủ làm cho bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương trở nên gọn nhẹ hơn, minh bạch và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn.

5. Chế độ làm việc, quan hệ công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được đổi mới, đạt được những thành tựu quan trọng

Phương thức ra quyết định của Chính phủ được quy định và thực hiện một cách linh hoạt. Không phải tất cả các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ đều được Chính phủ quyết định theo nguyên tắc “thảo luận tập thể và quyết định theo đa số” (8). Chỉ có một số vấn đề quan trọng theo quy định của Luật tổ chức Chính phủ mới được giải quyết theo nguyên tắc này. Mặt khác, không ít vấn đề thuộc thẩm quyền của Thủ tướng, nhưng để tham khảo thêm ý kiến các thành viên Chính phủ, Thủ tướng có thể đưa ra thảo luận tại phiên họp Chính phủ trước khi quyết định.

Chính phủ, Thủ tướng đều sử dụng pháp luật làm công cụ quản lý, điều hành. Đây là điểm khác biệt cơ bản so với phương thức quản lý, điều hành của Chính phủ trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp.

Tư tưởng xuyên suốt các bản quy chế làm việc của Chính phủ đã được ban hành từ năm 1992 đến nay là xác định ngày càng rõ hơn trách nhiệm của Thủ tướng, các Phó Thủ tướng và các Thành viên Chính phủ trong việc giải quyết các công việc thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Ngoài trách nhiệm quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực được phân công, Bộ trưởng với tư cách là Thành viên Chính phủ dưới nhiều hình thức tham gia tích cực và có trách nhiệm hơn vào các công việc chung của Chính phủ, thay mặt Chính phủ giải quyết những công việc thuộc trách nhiệm của Chính phủ khi được Tập thể Chính phủ hoặc Thủ tướng phân công.

Điểm đáng chú ý thời gian gần đây trong hoạt động của Chính phủ là sự chủ động cung cấp thông tin chính thống, đúng đắn, khách quan về những chủ trương, chính sách, về sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhằm định hướng dư luận, đặc biệt bảo đảm quyền được thông tin của người dân, góp phần tạo đồng thuận xã hội trong việc xử lý những vấn đề kinh tế – xã hội quan trọng, bức xúc, ví dụ: việc Chính phủ công bố con số dự trữ ngoại tệ hơn 20 tỷ USD, qua đó khẳng định khả năng ổn định tỷ giá, đã giúp trấn an tâm lý người dân, làm tan cơn sốt ảo về tỷ giá từng xảy ra vào nửa cuối năm 2008.

Công nghệ thông tin đã được ứng dụng mạnh mẽ vào công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Đã có nhiều cuộc họp của Thủ tướng với bộ, ngành, chính quyền địa phương được tiến hành qua mạng máy tính hoặc cầu truyền hình.

6. Thủ tục hành chính trong quan hệ giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức được cải cách mạnh mẽ

Với việc ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 4/5/1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức, cải cách thủ tục hành chính là sự mở đầu và trở thành khâu đột phá của công cuộc cải cách hành chính. Sau hơn 15 năm cải cách, thủ tục hành chính trên hầu hết các lĩnh vực đều đã được rà soát, sửa đổi, ban hành mới theo hướng đơn giản hoá, minh bạch, giảm phiền hà. Đặc biệt, thủ tục hành chính trong những lĩnh vực bức xúc, liên quan trực tiếp tới người dân và doanh nghiệp như đất đai, xây dựng, hộ tịch, hộ khẩu, đầu tư, đăng ký doanh nghiệp, hải quan, thuế, kho bạc, xuất nhập khẩu v.v.. đã được rà soát nhiều lần, loại bỏ những thủ tục phức tạp, gây phiền hà, từng bước tạo lập lại niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào sự phục vụ của các cơ quan công quyền.

Từ năm 2003, chính quyền địa phương các cấp đã triển khai công tác rà soát thủ tục hành chính gắn với việc thực hiện cơ chế “một cửa” về thực hiện thủ tục hành chính theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Đến nay, cơ chế “một cửa” đã được triển khai thực hiện rộng khắp ở tất cả các địa phương, đến tận cấp xã. Kết quả rõ nhất của việc triển khai cơ chế “một cửa” là công khai hoá, minh bạch hoá các quy định về thủ tục hành chính, giảm phiền hà, giảm đáng kể thời gian chờ đợi cho người dân, trách nhiệm của cán bộ, công chức được nâng cao, thông qua đó góp phần đổi mới cơ bản mối quan hệ giữa cơ quan hành chính và người dân, doanh nghiệp.

Những kết quả tích cực trong cải cách thủ tục hành chính đã làm thay đổi mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với người dân và doanh nghiệp, thay cho việc ra lệnh, “cai trị” và kiểm soát, bộ máy hành chính và cán bộ, công chức chuyển sang phục vụ, hỗ trợ, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, làm ăn sinh sống của dân và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

7. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Chính phủ được đổi mới nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Chính phủ trong quản lý, điều hành đất nước

So với những năm trước Đổi mới, cách thức lãnh đạo của Đảng đối với Chính phủ hiện nay đã khác rất nhiều. Các cơ quan lãnh đạo của Đảng không còn trực tiếp chỉ đạo công việc cụ thể hàng ngày của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Về cơ bản, hoạt động của Chính phủ không còn bị động, chủ yếu chỉ làm nhiệm vụ thể chế hoá, cụ thể hoá các quyết định của Đảng. Mối quan hệ lãnh đạo giữa Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư với Chính phủ ngày càng được xác định cụ thể hơn, được quy chế hoá theo hướng phân định rõ những việc Chính phủ được chủ động quyết định theo thẩm quyền được quy định trong Hiếp pháp và các đạo luật, những việc Chính phủ cần thiết phải xin ý kiến, những việc Chính phủ quyết định cụ thể hoá theo chủ trương, chính sách lớn mà các cơ quan của Đảng đã quyết định. Qua đó, giảm bớt nhiều những việc, kể cả những việc thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao, Ban cán sự đảng Chính phủ phải xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư trước khi quyết định. Đồng thời, Chính phủ thông qua Ban cán sự đảng Chính phủ, Ban cán sự đảng của các bộ đã chủ động tham mưu cho Ban chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị xem xét, quyết định về công tác cán bộ và về những chủ trương, chính sách lớn trên các lĩnh vực quản lý nhà nước để định hướng mục tiêu chính sách cho hoạt động của Chính phủ, đồng thời tạo cơ sở tiền đề để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị hỗ trợ cho Chính phủ trong thực hiện các chức năng, thẩm quyền quản lý, điều hành mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội của đất nước.

Nguyên tắc hàng đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ là: “Mọi hoạt động của Chính phủ, thành viên Chính phủ phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng” (9). Các nghị quyết, chủ trương của Đảng đã được Chính phủ triển khai tổ chức thực hiện theo chương trình, kế hoạch cụ thể. Trong công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế thuộc phạm vi thẩm quyền của Chính phủ, từ xây dựng chương trình, nghiên cứu, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra đến xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật, thì yêu cầu hàng đầu cũng là phải bảo đảm phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng (10).

Chú thích:

(1) Hiến pháp năm 1980 khẳng định Chính phủ là “cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”. Theo đó, Chính phủ trở thành một cơ quan của Quốc hội, trực thuộc Quốc hội, cơ quan cấp dưới của Quốc hội, nói cách khác, quyền hành pháp chưa đạt được vị trí, vai trò độc lập trong quan hệ với quyền lập pháp.

(2) Điều 109 và Điều 115 của Hiến pháp năm 1992.

(3) Khoản 1, Điều 114 của Hiến pháp năm 1992.

(4) Điều 116 của Hiến pháp năm 1992.

(5) Báo cáo kiểm điểm điều hành của Chính phủ năm 2004.

(6) Báo cáo kiểm điểm điều hành của Chính phủ năm 2005.

(7) Nguồn: Các báo cáo kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ hàng năm.

(8) Điều 115 của Hiến pháp năm 1992.

(9) Khoản 1 Điều 2 Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 179/2007/NĐ-CP ngày 3/12/2007.

(10 ) Yêu cầu này đã được thể chế hóa cụ thể trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ - THS. NGUYỄN PHƯỚC THỌ – Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ

Trích dẫn từ:http://www.nclp.org.vn/

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

4. Kiện đòi bồi thường thiệt hại do phải tạm ngừng xây dựng nhà ?

Kính chào công ty luật Minh Khuê! Xin phép hỏi Luật sư, mong Luật sư sắp xếp thời gian trả lời: Gia đình tôi có thửa đất mua lại của chủ khác, đã có hồ sơ xác định đất đai đầy đủ nhưng chưa được cấp GCNQSDĐ, tôi công tác xa, không có điều kiện ở gần.

Thời gian vừa qua, hộ gia đình anh A bên cạnh làm thủ tục xin cấp phép xây dựng và được UBND huyện tiếp nhận hồ sơ, hẹn ngày cấp giấy phép xây dựng theo quy định. Tuy nhiên, qua người thân, tôi được phản ánh hộ gia đình anh A khi chưa có giấy phép đã tiến hành đào móng và có lấn sang phần đất của tôi. Tôi đã viết đơn kiến nghị lên phòng Kinh tế hạ tầng của huyện trình bày sự việc. Phòng Kinh tế hạ tầng đã có văn bản tạm dừng thủ tục câp phép cho hộ gia đình anh A để gải quyết và yêu cầu anh A tạm dừng thi công. Sau đó, UBND xã đã tiến hành đo đạc, xác minh gia đình anh A chưa vi phạm sang phần đất của tôi, tại buổi làm việc tôi đã ngỏ ý xin lỗi. Sau đó Phòng Kinh tế hạ tầng đã tiến hành cấp Giấy phép xây dựng cho anh A ( từ khi tạm dừng tới khi cấp cách nhau 6 ngày). Tuy nhiên, gia đình anh A đã làm đơn kiện tôi và phòng Kinh tế hạ tầng huyện, với lý do phải bồi thường danh dự, hư hỏng vật liệu (trong 6 ngày). Mặc dù tôi đã xin lỗi, nhưng gia đình anh A cố tình kiện tôi.

Vì vậy tôi xin phép hỏi Luật sư, quá trình trên, tôi làm đơn kiến nghị giải quyết như trên có đúng luật không? phòng kinh tế hạ tầng huyện và UBND xã xử lý như vậy đúng không?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Kiện đòi bồi thường thiệt hại do phải tạm ngừng xây dựng nhà ?

Luật sư tư vấn đất đai trực tuyến qua điện thoại, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào Điều 166 về quyền chung của người sử dụng đất và Điều 205 về giải quyết tố cáo về đất đai của Luật Đất đai 2013 như sau:

Điều 166. Quyền chung của người sử dụng đất

1. Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

2. Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất.

3. Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp.

4. Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp.

5. Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.

6. Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật này.

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

Điều 205. Giải quyết tố cáo về đất đai

1. Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai.

2. Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

Như vậy, bạn có quyền tố cáo về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình. Tuy nhiên, trong trường hợp của bạn: gia đình hàng xóm của bạn hoàn toàn không có hành vi xâm phạm sang phần đất của gia đình bạn, việc bạn tố cáo lên phòng kinh tế hạ tầng xã là do nhầm lẫn. Việc phòng kinh tế hạ tầng xã nhanh chóng có hành vi can thiệp là đình chỉ việc xây dựng của anh A để tiến hành xác minh là đúng, hoàn toàn không trái pháp luật.

Căn cứ vào các Điều luật sau của Bộ luật dân sự 2005 và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán như sau:

Điều 37. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

Điều 608. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:

1. Tài sản bị mất;

2. Tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;

3. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;

4. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

Điều 611. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

2. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Căn cứ mục 1 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP như sau:

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây gọi tắt là BLDS), về nguyên tắc chung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây:

1.1. Phải có thiệt hại xảy ra.

Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.

a) Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 BLDS; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự 2005 .

b) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mấy uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm.. và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin… vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu.

1.2. Phải có hành vi trái pháp luật.

Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật.

1.3. Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại.

1.4. Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại.

a) Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

b) Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

Cần chú ý là đối với trường hợp pháp luật có quy định việc bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó.

Như vậy ta có thể thấy: Mặc dù anh A có thể chứng minh được thiệt hại thực tế là nguyên vật liệu xây dựng bị hư hại do đình trệ xây dựng trong vòng 6 ngày, có thể chứng minh được anh ta bị tổn thất về tinh thần do việc tố cáo của bạn... Nhưng vấn đề mấu chốt là bạn không có hành vi trái pháp luật. Việc thực hiện quyền tố cáo là quyền cơ bản của công dân nhằm tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hơn nữa, việc chứng minh thiệt hại thực tế hay tổn thất tinh thần trong trường hợp này là rất khó khăn. Nhưng để giải quyết vụ việc một cách êm thấm nhất, bạn nên thỏa thuận với anh A để anh A rút đơn khởi kiện, hoặc thông qua công tác hòa giải tại địa phương.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

5. Xây dựng nhà cao tầng theo kinh nghiệm từ Nhật Bản

Lên đến 183.784 căn hộ vào đỉnh điểm trong năm 2000, việc cung cấp các căn hộ tại Nhật Bản hiện đang tiếp tục suy giảm dần dần tại các đô thị lớn và vùng ngoại ô. Việc cung cấp căn hộ tập trung tại những khu vực giao thông thuận tiện và dịch vụ công cộng tốt đang gia tăng, đồng thời giảm mạnh tại những khu vực không thích hợp xây dựng chung cư như: vùng ngoại ô của các đô thị cực lớn.

Nhà ở cao tầng tại Nhật Bản, định hướng và những thành công đạt được

Người Nhật đặt tiêu chuẩn nào để đánh giá chất lượng ở của chung cư?

Chung cư Nhật muốn được xem là cao cấp, ngoài thiết kế, trang thiết bị sang trọng, giá cả và vị trí tương xứng, còn phải đáp ứng nhu cầu tiện lợi giao thông, cảnh quan đẹp, không gian công cộng và không gian trống công cộng cao cấp. Ngay cả khi quy mô khu đất đủ lớn để xây dựng chung cư cao cấp, giá cả, vị trí, thiết kế và trang thiết bị hợp lý, người ta cũng không thể gọi những chung cư này là hoàn hảo, trừ khi chúng đáp ứng được yêu cầu về giao thông.

Lên đến 183.784 căn hộ vào đỉnh điểm trong năm 2000, việc cung cấp các căn hộ tại Nhật Bản hiện đang tiếp tục suy giảm dần dần tại các đô thị lớn và vùng ngoại ô. Việc cung cấp căn hộ tập trung tại những khu vực giao thông thuận tiện và dịch vụ công cộng tốt đang gia tăng, đồng thời giảm mạnh tại những khu vực không thích hợp xây dựng chung cư như: vùng ngoại ô của các đô thị cực lớn. Tai đây, việc xây dựng chung cư giảm mạnh đã chuyển thành nơi xây dựng các nhà ở biệt lập trong khi việc xây dựng chung cư tập trung mạnh tại trung tâm của Tokyo.

Thực ra chung cư là một hình thức nhà ở cho phép cư dân được sống gần những khu thương mại dịch vụ. Sống trong chung cư đồng nghĩa với việc có được lợi thế về nhiều tiện nghi của đô thị hiện đại trong cuộc sống hàng ngày, được hưởng dụng tiện nghi và trang bị của các đô thị cũng như truyền thống lịch sử, hưởng dụng mặt nước và cảnh quan mảng xanh.

Các chung cư đã từng phải di chuyển về khu vực ngoại ô do việc giá đất tăng vọt khi kinh tế bùng nổ đã phải quay trở về những khu vực phù hợp cho việc nâng cấp hạ tầng tại trung tâm Tokyo và những nơi khác sau khi kinh tế bị đóng băng. Trong tương lai, nhu cầu đối với chung cư sẽ tập trung cao tại những trung tâm thương mại dịch vụ và khu lân cận trong khi nhu cầu tại những khu có hệ thống giao thông chưa hiệu quả sẽ tiếp tục giảm sút. Tóm lại, nhu cầu nhà chung cư tùy thuộc vào sự thuận tiện giao thông và dịch vụ công cộng.

Xây dựng nhà cao tầng theo kinh nghiệm từ Nhật Bản

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Vậy dịch vụ công cộng cần thiết là gì?

Chúng gồm rất nhiều: môi trường đẹp và trong sạch, đầy đủ tiêu chuẩn về mảng xanh và mặt nước, café ngoài trời, nhà hàng và y tế đáp ứng được nhu cầu hàng ngày và tạo cuộc sống thoải mái, cho phép mọi người liên lạc và giao lưu với nhau không phân biệt tuổi tác; đóng góp cho khu dân cư nhờ mối liên hệ lịch sử chặt chẽ và đưa văn hóa địa phương vào thiết kế kiến trúc và cảnh quan, cũng như sự cung cấp mặt bằng tầng và trang thiết bị phù hợp đáp ứng các kiểu gia đình khác nhau và đảm bảo được thời gian sử dụng lâu dài.

Những nhà đầu tư nhân xây dựng chung cư đã nghĩ ra nhiều kiểu mặt bằng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên có lẽ sẽ khó khăn để đáp ứng nhu cầu khách hàng nếu chỉ xây dựng những chung cư kiểu dáng giống nhau. Ngày nay, mọi người đều nói về thiết kế và tranh luận về thời trang, phong cách sống và đời sống văn hóa.

Con người ngày càng quan tâm hơn tới cảnh quan đô thị và không thể chấp nhận hài lòng chỉ với hình thức thiết kế kiến trúc. Họ bắt đầu nhận thấy rằng điều quan trọng là cảnh quan khu ở, cảnh quan đô thị và toàn cảnh đô thị hài hòa. Nhu cầu của khách hàng ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Trong một thị trường sành sỏi như vậy, điều quan trọng là khả năng tiếp thị để nắm bắt nhu cầu khách hàng.

Trong những năm gần đây, rất nhiều dự án tái phát triển được tiến hành tại những đô thị lớn, bao gồm Tokyo, Osaka và Yokohama. Tại những đô thị này, các chương trình quy hoạch dự định nhằm cải thiện môi trường sống đô thị và đa dạng hóa chức năng đô thị, thiết lập những môi trường ở tốt đẹp, cung cấp các tiện nghi thương mại dịch vụ và những không gian chung khác trong khi vẫn đảm bảo hài hòa hoàn hảo với môi trường xung quanh.

Từ kinh nghiệm Nhật Bản – đối chiếu với kinh nghiệm từ Singapore:

Bên cạnh Singapore, Nhật Bản cho ta ví dụ khác về sự phát triển về chất lượng của các dự án nhà ở cao tầng với các nhận xét như sau:

Định hướng phát triển căn cứ theo bản sắc văn hóa: Tuy cả hai hình mẫu Singapore và Nhật Bản đều có mẫu số chung là nâng cao chất lượng ở của các dự án nhà ở cao tầng nhưng chính sách phát triển của mỗi quốc gia có khác nhau. Căn hộ tại Singapore nhắm tới việc ngày càng nâng cao chất lượng và sự sang trọng hơn của khu ở để thu hút chất xám của thế giới.

Nhật Bản nhắm tới mục tiêu phát triển bền vững. Họ nhắm tới một hình mẫu khu nhà ở đô thị sao cho chúng có thể tồn tại lâu bền như một hình mẫu đẹp và chất lượng, ổn định bền vững, giống như các đô thị cổ La Mã có thể tồn tại suốt cho tới tận ngày nay. Điều này thể hiện sự khác biệt về chiều sâu văn hóa của người Nhật Bản, so với Singapore, hay khách quan hơn là sự khác biệt về bản sắc văn hóa giữa hai đất nước.

Singapore là điểm nút giao dịch thương mại dịch vụ của thế giới với chính sách thu hút nhân tài tới làm việc và tìm kiếm cơ hội làm giàu, trong khi Nhật Bản là đảo quốc với hàng ngàn năm lịch sử và văn hóa có tính bảo lưu văn hóa rất cao. Nhận xét này là một yếu tố quan trọng để chúng ta xác định cách thức phát triển nhà ở của riêng mình.

Kinh nghiệm trong quy hoạch địa điểm xây dựng: Qua quá trình phát triển nhà ở cao tầng Nhật Bản, ta thấy có hai xu hướng quy hoạch địa điểm xây dựng chung cư trong đô thị:

- Xu hướng 1: Xuất hiện khi nền kinh tế phát triển bùng nổ, dẫn tới giá đất đô thị tăng cao. Do đó các dự án chung cư buộc từng phải di chuyển về khu vực ngoại ô có giá trị đất còn thấp.

- Xu hướng 2: Khi nền kinh tế hạ nhiệt hoặc đóng băng, các dự án chung cư quay trở về khu trung tâm đô thị, là nơi có hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật phát triển, hấp dẫn người đến mua căn hộ.

Qua 2 xu hướng trên cho thấy, dự án nhà ở cao tầng nên được bố trí tại những nơi có điều kiện sử dụng nhiều tiện nghi của đô thị hiện đại trong cuộc sống hàng ngày, được hưởng dụng tiện nghi và trang bị của các đô thị cũng như truyền thống lịch sử, hưởng dụng mặt nước và cảnh quan mảng xanh, cũng như thuận tiện giao thông đi lại.

Phối hợp giữa nhiều bên để dự án có tính khả thi: Kinh nghiệm của người Nhật cũng cho ta một mô hình để phát triển dự án bền vững: với sự phối hợp của “chính quyền thành phố, các tổ chức xã hội và khu vực tư nhân” để phát triển những dự án nhà ở quy mô lớn đồng thời với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, ta mới có điều kiện cải thiện điều kiện công trình công cộng và chất lượng sống không chỉ bên trong những khu ở đó mà cả cho những chung cư cao tầng đang hiện hữu xung quanh.

Về phát triển nhà ở xã hội: Ta có thể tạm phân đoạn tiến trình phát triển nhà ở cao tầng phục vụ xã hội thành 2 giai đoạn:

1. Giai đoạn khởi động:

Chủ yếu vận động người dân chấp nhận nhà chung cư như một giải pháp tình thế, giải tỏa bớt sức ép lên trung tâm đô thị. Mục tiêu giai đoạn này là xây dựng các dự án nhà ở xã hội với chất lượng ở thấp nhưng phù hợp với số đông người nghèo đô thị, giúp họ làm quen với loại hình nhà ở cao tầng và giúp họ định cư trong các khu ở rẻ tiền nhưng điều kiện ở có thể chấp nhận được.

Phải chăng quỹ đất đô thị của TP Hồ Chí Minh là vô hạn? Việc lựa chọn loại hình nhà ở và các tổ chức thiết kế cho các dự án nhà ở xã hội cần xem xét cẩn thận để phù hợp điều kiện kinh tế xã hội của cộng đồng cư dân cần cung cấp nhà ở. Điều kiện kinh tế xã hội của TP Hồ Chí Minh đang thay đổi từng ngày và đã đến lúc chúng ta cần suy nghĩ sâu hơn về kế hoạch khai thác quỹ đất đô thị hiệu quả hơn và xem xét tới những lợi ích lâu dài hơn cho đô thị.

2. Giai đoạn nâng dần chất lượng ở, thông qua các bước:

- Hoàn thiện nơi ở tiện nghi hơn nhờ các trang thiết bị nội thất, xây dựng các không gian cộng đồng hay kết hợp với không gian mở công cộng để nâng chất lượng ở.

- Chú ý xây dựng mối quan hệ xã hội và cộng đồng.

Việc lựa chọn hình thức và cấp độ chất lượng khu ở của dự án nhà ở cao tầng cần phù hợp trình độ dân trí và khả năng kinh tế của cư dân tại khu vực. Nói cách khác, mức độ chất lượng khu ở và cấp gia tăng theo trình độ dân trí và khả năng kinh tế, đồng thời cũng phụ thuộc vào trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật của xã hội. Việc xác định các chỉ tiêu quy hoạch-kiến trúc cơ bản nêu trên cần căn cứ trên khả năng đáp ứng của mạng lưới hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tại khu vực.

Những kinh nghiệm trên đây có thể sẽ hữu ích trong việc quản lý phát triển nhà ở cao tầng tại TP Hồ Chí Minh, nếu ta xét tới sự bùng nổ và cơn sốt căn hộ cao tầng trong thời gian gần đây.

Công ty luật Minh Khuê (biên tập)

6. Cải cách hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

Ngày nay, cải cách hành chính là vấn đề mang tính toàn cầu. Cả các nước đang phát triển và các nước phát triển đều xem cải cách hành chính như một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội.

1. Đặt vấn đề

Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ năm 1986, tính đến nay đã gần 20 năm. Trong khoảng thời gian đó, đồng thời với việc đổi mới về kinh tế thì cải cách hành chính cũng được tiến hành. Cuộc cải cách hành chính được thực hiện từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ. Cải cách hành chính đang thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triển đất nước. Việt Nam đang là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai, thứ ba trên thế giới, công nghiệp và dịch vụ phát triển, đầu tư nước ngoài xu hướng chung là tăng, nhiều vấn đề xã hội đang được giải quyết tốt. . .Tuy nhiên, Ở Việt Nam đang còn rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội đã tồn tại từ lâu và mới nảy sinh cần phải được giải quyết tích cực và có hiệu quả. Bên cạnh đó, bối cảnh toàn cầu hoá đang đặt ra trước Việt Nam những thách thức và cơ hội mới đòi hỏi phải có những cố gắng cao độ. Điều đó cũng có nghĩa là quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết. Cái khó trong cải cách hành chính Ở Việt Nam là phải tiến hành một cuộc cải cách hành chính có tính chất cách mạng từ quản lý lập trung quan liêu, bao cấp sang quản lý trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng dân chủ. Điều này chưa từng có tiền lệ. Vì vậy, đối với chúng tôi, bên cạnh việc tự tìm tòi thì việc tham khảo kinh nghiệm cải cách hành chính ở các nước (trong đó có Nhật Bản) là hết sức cần thiết để đẩy mạnh và có kết quả hơn nữa công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước.

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động qua điện thoại (24/7) gọi: 1900.6162

Tư tưởng nhà nước pháp quyền đã hình thành sớm trong lịch sử tư tưởng chính trị- pháp lý của nhân loại, ngày càng được bổ sung với những nội dung mới. Nhưng nội dung căn bản của lý thuyết" nhà nước pháp quyền" là sự đề cao pháp luật trong mối tương quan với nhà nước, pháp luật như là công cụ để hạn chế quyền lực nhà nước.

Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng phức tạp chứa đầy ẩn số, đầy những mâu thuẫn nội tại của nó. Nhà nước pháp quyền được tạo bởi hai thành tố " nhà nước" và " pháp quyền". Sự phức tạp, mâu thuẫn là ở chỗ, nhà nước đặt ra pháp luật nhưng nhà nước lại phải tôn trọng pháp luật, đặt mình dưới pháp luật, coi pháp luật là những chuẩn mực cho mọi hành vi hoạt động của mình. Thêm vào đó sự phức tạp còn là ở chỗ có vô số những quan niệm về nhà nước và về pháp luật. Đã nhiều thời đại và cho đến tận ngày nay ngưòi ta vẫn quan niệm: "nhà nước là công cụ thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác trong xã hội" hay "nhà nước là tổ chức phúc lợi chung của xã hội", còn pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật". Trong khi người ta có thể thừa nhận sự lệ thuộc của nhà nước vào pháp luật, nhưng thực tiễn lại có vô số những hành vi vi phạm pháp luật từ phía công quyền.

Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 ghi nhận quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền. Điều 2 ghi nhận: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân , vì nhân dân".

Việc ghi nhận đó là cơ sở pháp lý sác định mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Nhưng xây dựng nhà nước pháp quyền là một quá trình lâu dài, phức tạp, các quốc gia xây dựng nhà nước pháp quyền với những xuất phát điểm khác nhau về đời sống kinh tế- xã hội và văn hóa và bằng những con đường, bước đi khác nhau, không có một mô hình chung cho mọi dân tộc.

2. Quan niệm về nhà nước pháp quyền

Về nhà nước pháp quyền cũng có vô số những quan niệm khác nhau, được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh khác nhau. Do đó không thể có một định nghĩa ngắn gọn về nhà nước pháp quyền, mà cần cần phải xem xét nhà nước pháp quyền từ nhiều khía cạnh, phương diện khác nhau.

Về mặt nhận thức theo tôi nhà nước pháp quyền có những đặc trưng mang tính phổ biến sau đây:

- Nhà nước pháp quyền trước hết là nhà nước hợp hiến, hợp pháp; nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, trong đó các đạo luật chiếm ưu thế trong hệ thống pháp luật;

Pháp luật của nhà nước pháp quyền là pháp luật chứa đựng tính nhân văn, nhân đạo, pháp luật vì con người, vì số đông trong xã hội, pháp luật phải thể hiện được ý chí cộng đồng dân tộc, quốc gia, không phải ý chí của một nhóm người, một cá nhân hay một tập đoàn nào đó.

- Nhà nước, các cơ quan của nhà nước phải đặt mình dưới pháp luật, lệ thuộc vào pháp luật. Trong mối quan hệ giữa nhà nước với pháp luật thì "tính trội " thuộc về pháp luật, ở khía cạnh này pháp luật như là công cụ, phương tiện để hạn chế quyền lực nhà nước, hạn chế công quyền.

- Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó các quyền tự do của công dân phải ngày càng được mở rộng, được bảo đảm, bảo vệ bằng cơ chế pháp luật, bằng các tiền đề, điều kiện về kinh tế- xã hội, bằng tổ chức nhà nước. Như vậy, pháp luật là công cụ phương tiện ghi nhận, bảo vệ các quyền công dân.

- Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà trong đó thiết lập mối quan hệ trách nhiệm qua lại giữa công dân với nhà nước và nhà nước với công dân. Công dân có trách nhiệm với nhà nước và nhà nước có trách nhiệm với công dân.

Trong nhà nước pháp quyền vai trò của Toà án được đề cao, các nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp phải độc lập một cách tương đối, phối hợp với nhau và phải kiềm chế được nhau.

Ngoài những đặc điểm mang tính phổ biến đó, Nhà nước pháp quyền Việt Nam lại có một số đặc điểm mang tính riêng biệt của mình thể hiện định hướng chính trị của nhà nước, tính chất, bản chất của nhà nước mà Việt Nam cần xây dựng đó là: Nhà nước pháp quyền Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền Việt Nam phải là nhà nước mà tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; Nhà nước pháp quyền Việt Nam phải là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở quan điểm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Nhà nước pháp quyền Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam- đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và của cả dân tộc. Đây là những vấn đề mang tính nguyên tắc có tính chính trị- xã hội định hướng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam trên thực tế.

Tóm lại: Nhà nước pháp quyền là nhà nước hợp hiến, hợp pháp, mọi hoạt động của nhà nước hợp hiến, hợp pháp, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền dân chủ.

Thông quan những nhận thức này về nhà nước pháp quyền có thể nhận thấy những điều cốt yếu khi xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam phải giải quyết trên thực tế: quan hệ nhà nước và pháp luật; quan hệ nhà nước với dân cư; tạo được các các bảo đảm pháp lý, các tiền đề, điều kiện cho xây dựng nhà nước pháp quyền; xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam phải bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm bản chất của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của nhà nước.

Trong những năm gần đây để từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện nhiều hoạt động: Hoàn thiện, sửa đổi Luật, cũng như các văn bản dưới luật; tăng cường các định chế kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện pháp luật; Đổi mới bộ máy nhà nước từ việc tổ chức đến hoạt động thực tế của cơ quan quyền lực nhà nước; cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp; chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất xã hội, phát huy tính năng động sáng tạo, dân chủ của người dân trong lĩnh vực kinh tế. Đây là tiền đề, điều kiện có tính căn bản, nền tảng của xây dựng nhà nước pháp quyền.

Về mặt nhận thức có thể nói rằng ngày nay nghiên cứu về nhà nước pháp quyền ở Việt Nam đã bước qua giai đoạn trả lời câu hỏi: Nhà nước pháp quyền là gì? để xây dựng nhà nước pháp quyền cần phải làm gì? mà chuyển sang giai đoạn để xây dựng nhà nước pháp quyền phải làm như thế nào?. Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Kiểm sát phải tổ chức và hoạt động như thế nào, phải làm gì để xây dựng nhà nước pháp quyền.

3. Nhà nước pháp quyền với việc cải cách hành chính ở Việt Nam

Lịch sử đã chỉ ra rằng bất kỳ một cuộc cải cách nào cũng đều có mục tiêu, mục đích xã hội của nó. Mục tiêu cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay là: xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, tiết kiệm, chuyên nghiệp, phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn.

Cải cách hành chính ở Việt nam được tiến hành nhiều năm nay với những bước đi- lộ trình khác nhau từ thấp tới cao. Bắt đầu là việc cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức, đến cải cách một bước nền hành chính nhà nước với ba nội dung là: cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Ngày nay cải cách hành chính đã chuyển sang một bước mới với bốn nội dung: cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công.

Trong những năm qua cải cách hành chính ở Việt Nam đã làm được những gì để góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền đó là:

- Về thể chế hành chính đã sửa đổi Hiến pháp, ban hành các Luật mới và các văn bản dưới luật về tổ chức bộ máy nhà nước; Sửa đổi bổ sung một số điều Pháp lệnh cán bộ, công chức; ban hành các nghị định để cụ thể hóa Pháp lệnh, cán bộ, công chức...Điều quan trọng là: các văn bản về tổ chức bộ máy nhà nước là đã quy định khá cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, từng bước thể hiện sự phân cấp trong quản lý giữa Trung ương và địa phương; các văn bản pháp luật về công vụ, cán bộ, công chức đã quy định khá cụ thể các quyền, nghĩa vụ của các cán bộ, công chức và đã bước đầu đi theo hướng chuyên biệt hoá các đối tượng những người phục vụ trong cơ quan, tổ chức nhà nước.

- Về bộ máy hành chính đã giảm dần các đầu mối quản lý, số lượng các cơ quan quản lý nhà nước đã giảm xuống đáng kể, thủ tuc hành chính được cải cách theo hướng "một cửa", mẫu hóa các văn bản hành chính, giấy tờ, công khai các thủ tục hành chính. Chính việc cải cách thủ tục hành chính này đã góp phần hạn chế sự sách nhiễu, phiến hà, tham những của các công chức hành chính trong khi giải quyết các công việc của công dân. Đây là điểm căn bản nhất của cải cách hành chính góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền.

Một vấn đề đang được quan tâm trong cải cách hành chính ở Việt Nam là vấn đề phân cấp trong quản lý nhà nước. Phân cấp thực chất là việc chuyển dần các công việc, nguồn lực do chính quyền trung ương nắm giữ cho chính quyền địa phương các cấp một cách lâu dài, ổn định bằng các văn bản luật, dưới luật, nhằm mở rộng dân chủ, phát huy tính chủ động sáng tạo của chính quyền địa phương. Trong xu hướng phân cấp bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương sẽ tập trung vào việc xây dựng chính sách, bảo đảm sự thống nhất về thể chế, việc giải quyết những vấn đề lớn của quốc gia, còn những việc thuộc phạm vi cộng đồng lãnh thổ do cộng đồng lãnh thổ giải quyết. Như vậy, vấn đề phân cấp gắn với vấn đề dân chủ, dân chủ là cốt lõi của nhà nước pháp quyền, không có dân chủ thì không có nhà nước pháp quyền, không mở rộng quyền chủ động sáng tạo của chính quyền địa phương thì không có nhà nước pháp quyền. Bởi vì chỉ có thể thông qua những thiết chế dân chủ, phát huy tính dân chủ, sáng tạo của cộng đồng lãnh thổ mới có thể tạo lập được môi trường thuận lợi để nhân dân các cộng đồng lãnh thổ kiểm soát được hoạt động của nhà nước.

Ngày nay một số địa phương đã áp dụng tiêu chuẩn ISO để đánh gía, kiểm soát thường xuyên hoạt động của các cơ quan hành chính trong việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức. Trong số các tiêu chí đánh giá về cơ quan hành chính có các tiêu chí đáng lưu ý gắn với nhà nước pháp quyền: tính hợp pháp của nội dung các quyết định; tính đúng đắn về thời hạn theo quy định của pháp luật của các quyết định; tính đúng đắn về thủ tục giải quyết các công việc. Thực tiễn việc áp dung các tiêu chuẩn ISO vào hoạt động hành chính đã mang lại những kết quả đáng kể: việc giải quyết các công việc của dân đơn giản, nhanh gọn, đúng pháp luật, đúng thời hạn, đúng thủ tục.

Tóm lại việc cải cách hành chính ở Việt Nam trong những năm qua và trong tương lai đi theo hướng làm cho bộ máy hành chính hoàn bị hơn, hoạt động có hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân ngày một đúng pháp luật, tốt hơn và tiết kiệm nhất, dần từng bước chuyển nền hành chính từ cơ quan cai quản thành các cơ quan phục vụ dân, làm các dịch vụ hành chính đối với dân, công dân là khách hàng của nền hành chính, là người đánh gía khách quan nhất về mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính.

Tất cả những mục tiêu đó của cải cách hành chính cũng là nhằm góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với bản chất của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Công ty luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)